5. Pañcakanipāto

Chương V – Phẩm Năm Kệ

5. Nhóm năm

Tipitaka.org Việt dịch: HT. Thích Minh Châu Việt dịch: TK. Indacanda
1. Rājadattattheragāthā (CXCVIII) Ràjadatta (Thera. 37) Kệ ngôn của trưởng lão Rājadatta.  
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình của những người lữ hành, cha mẹ gọi ngài là Ràjadatta (Vua ban cho), vì rằng sinh được ngài là nhờ cha mẹ cầu nguyện Vesavana, một vị thiên thần hư không. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài một lần dẫn năm trăm cỗ xe hàng hóa đến Ràjagaha (Vương Xá); tại đấy ngài tiêu tất cả tiền, tiêu một ngàn đồng cho một kỹ nữ đẹp, đến nỗi ngài hết cả tiền, không có đủ ăn, phải đi lang thang trong đói khổ. Rồi ngài đến tinh xá Trúc Lâm (Veluvana) với các cư sĩ khác, tại đấy bậc Đạo Sư đang thuyết pháp với một thính chúng rất lớn. Rồi Rajadatta, ngồi ở phía ngoài thính chúng nghe, khởi lòng tin và xuất gia. Thực hành hạnh đầu đà, ngài sống trong một nghĩa địa.  
  Rồi một nhà lữ hành khác cũng tiêu hết một ngàn đồng cho người kỳ nữ, nhưng trên tay người này có một chiếc nhẫn rất có giá trị và người kỹ nữ thèm muốn lấy chiếc nhẫn. Nàng cho người đánh cắp. Nhưng người hầu hạ của người lữ hành tin cho cảnh sát biết, đến lục soát nhà nàng giết nàng và quăng thân nàng trong nghĩa địa.  
  Trưỏng lão Rajadatta, đang đi tìm một đối tượng để quán tưởng, thấy được thi hài của người kỹ nữ. Ngài tập trung tư tưởng, nhưng các phần thi hài nàng chưa bị chó hay chó rừng ăn, làm ngài dao động và chi phối ngài. Ngài lấy làm ảo não buồn phiền, lánh xa đi một lúc rồi lại bắt đầu tự mình khích lệ, tu thiền, phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán.  
  Rồi suy tư trên thành công của mình, cảm thấy hoan hỷ phấn khởi, ngài nói:  
315. ‘‘Bhikkhu sivathikaṃ [sīvathikaṃ (sī. syā. pī.)] gantvā, addasa itthimujjhitaṃ; Apaviddhaṃ susānasmiṃ, khajjantiṃ kimihī phuṭaṃ. 314. Một Tỷ-kheo đi đến. Tại một bãi tha ma, Thấy thân một đàn bà, Bị quăng tại chỗ ấy, Vất bỏ trong nghĩa địa, Làm mồi cho sâu ăn. 315. “Là vị tỳ khưu, sau khi đi đến bãi tha ma, tôi đã nhìn thấy (thây) người phụ nữ bị liệng bỏ, bị quăng ở nghĩa địa, đang bị gặm nhấm, lúc nhúc những dòi.
316. ‘‘Yañhi eke jigucchanti, mataṃ disvāna pāpakaṃ; Kāmarāgo pāturahu, andhova savatī [vasatī (sī.)] ahuṃ. 315. Có kẻ sinh nhàm chán,. Thấy thân chết khốn nạn, Trong ta, dục tham hiện, Như mù, ta bị trói. 316. Sau khi nhìn thấy chính nàng ấy, đã chết, xấu xa, nhiều người ghê tởm. Còn tôi đã giống như người mù đối với thây người đang rò rỉ, sự luyến ái về các dục đã xuất hiện (ở tôi).
317. ‘‘Oraṃ odanapākamhā, tamhā ṭhānā apakkamiṃ; Satimā sampajānohaṃ, ekamantaṃ upāvisiṃ. 316. Mau hơn cơm sôi trào,. Chỗ ấy, ta đi thoát, Chánh niệm, ta tỉnh giác, Ta đến, ngồi một bên. 317. Nhanh chóng hơn việc nấu chín nồi cơm, tôi đã lìa khỏi địa điểm ấy. Có niệm, có sự nhận biết rõ, tôi đã ngồi xuống ở một góc.
318. ‘‘Tato me manasīkāro, yoniso udapajjatha; Ādīnavo pāturahu, nibbidā samatiṭṭhatha. 317. Rồi ta tự ý tác,. Như lý khởi tư duy, Các hiểm nguy hiển lộ, Nhàm chán ta an trú. 318. Do đó, sự tác ý theo đúng đường lối đã khởi lên ở tôi, điều bất lợi đã hiện rõ, sự nhàm chán đã được thiết lập.
319. ‘‘Tato cittaṃ vimucci me, passa dhammasudhammataṃ; Tisso vijjā anuppattā, kataṃ buddhassa sāsana’’nti. 318. Và tâm ta giải thoát,. Thấy Pháp nhĩ là vậy, Ba minh chứng đạt được, Lời Phật dạy làm xong. 319. Do đó, tâm của tôi đã được giải thoát; hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp. Ba Minh đã được thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”[5]
…  Rājadatto thero….   Đại đức trưởng lão Rājadatta đã nói những lời kệ như thế.
2. Subhūtattheragāthā (CXCIX) Subhùta (Thera. 37) Kệ ngôn của trưởng lão Subhūta.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình thường dân ở Magadha, tên là Subhùta, ngài không thể sống trong gia đình, nên bỏ nhà làm nguời du sĩ. Không thấy trong bộ phái của mình cái gì là chân lý và thấy Upatissa, Kolita, Sela sống hạnh phúc hoan hỷ sau khi tu hành, ngài khởi lòng tin giáo lý đức Phật và xin xuất gia. Sau khi lấy được cảm tình các vị giáo thọ sư và truyền pháp sự, ngài vào nhập thất với một đề tài thiền quán. Nhờ phát triển thiền quán, ngài chứng quả A-la-hán.  
  Rồi ngài tuyên bố chánh trí của ngài bằng cách ôn lại sự đau khổ khi tu hành và sự hoan hỷ khi ngài được tu thiền, ngài nói lên bài kệ:  
320. ‘‘Ayoge yuñjamattānaṃ, puriso kiccamicchako [kiccamicchato (sī.), kiccamicchayaṃ (katthaci)]; Caraṃ ce nādhigaccheyya, ‘taṃ me dubbhagalakkhaṇaṃ’. 319. Đặt mình vào tại chỗ,. Không được cho thích đáng, Một người muốn làm việc, Nhưng không được thành tựu Như vậy công việc ấy, Được xem bị thất bại. 320. “Người đàn ông, trong khi gắn bó bản thân ở sự luyện tập sai trái (sự hành xác), trong khi ước muốn việc nên làm, nếu trong khi thực hành mà không thể chứng đắc, điều ấy là biểu hiện về số phần xui xẻo của tôi.
321. ‘‘Abbūḷhaṃ aghagataṃ vijitaṃ, ekañce ossajeyya kalīva siyā; Sabbānipi ce ossajeyya andhova siyā, samavisamassa adassanato. 320. Nếu từ bỏ phần thắng,. Gốc khổ được rút lên, Nó giống kẻ đánh bạc, Vận rủi quăng con bài, Nếu nó quăng tất cả, Nó chẳng khác người mù, Không nhìn thấy con đường, Bằng phẳng, không bằng phẳng. 321. Nếu buông lơi một việc (hành xác), là việc đem lại sầu khổ đã được rũ bỏ đã được chế ngự, thì có thể xem như người có vận rủi. Nhưng nếu buông lơi tất cả (không tu tập), thì có thể xem như kẻ mù, do không nhận thức được sự bằng phẳng và gồ ghề.
322. ‘‘Yañhi kayirā tañhi vade, yaṃ na kayirā na taṃ vade; Akarontaṃ bhāsamānaṃ, parijānanti paṇḍitā. 321. Hãy nói điều có làm,. Không nói điều không làm, Bậc Hiền trí rõ biết, Người chỉ nói không làm. 322. Nếu làm điều nào thì nên nói chính điều ấy; nếu không làm điều nào thì không nên nói điều ấy. Các bậc sáng suốt biết rõ người không làm mà nói.[6]
323. [dha. pa. 51 dhammapadepi] ‘‘Yathāpi ruciraṃ pupphaṃ, vaṇṇavantaṃ agandhakaṃ; Evaṃ subhāsitā vācā, aphalā hoti akubbato. 322. Như bông hoa tươi đẹp,. Có sắc nhưng không hương, Cũng vậy lời khéo nói, Có làm, có kết quả. 323. Cũng giống như bông hoa xinh đẹp có sắc không hương, tương tự như thế lời nói được khéo nói của kẻ không thực hành thì không có kết quả.
324. [dha. pa. 52] ‘‘Yathāpi ruciraṃ pupphaṃ, vaṇṇavantaṃ sugandhakaṃ [sagandhakaṃ (sī. syā. pī.)]; Evaṃ subhāsitā vācā, saphalā hoti kubbato’’ti [sakubbato (sī. pī.), sukubbato (syā.)]. 323. Như bông hoa tươi đẹp,. Có sắc lại không hương, Cũng vậy lời khéo nói Không làm không kết quả. 324. Cũng giống như bông hoa xinh đẹp có sắc có hương, tương tự như thể lời nói được khéo nói của người có thực hành là có kết quả.”[7]
…  Subhūto thero….   Đại đức trưởng lão Subhūta đã nói những lời kệ như thế.
3. Girimānandattheragāthā (CC) Girimànanda (Thera. 38) Kệ ngôn của trưởng lão Girimānanda.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài được sanh ở Ràjagaha (Vương Xá) con trai của vị cố vấn nghi lễ cho vua Bimbisàra (Tần-bà-sa-la). Ngài thấy uy lực và uy nghi của đức Phật khi đức Phật dự hội ở Ràjagaha, và xin xuất gia. Trong thời kỳ học tập, ngài sống trong một thời gian tại một ngôi làng rồi trở lui lại thành phố để đảnh lễ Đức Phật. Vua Bimbisàra nghe tin ngài tới, đến yết kiến ngài và nói ngài hãy ở lại đây, vua xin lo liệu tất cả. Vì vua nhiều việc nên quên đi lời hứa, và ngài phải sống giữa trời. Và thần mưa không mưa sợ làm ngài ướt. Rồi vua Bimbisàra, thấy trời hạn hán nên xây dựng một am thất cho ngài. Và ngài sống trong am thất ấy cố gắng tu hành tinh tấn, quyết tâm nỗ lực, tu tập thiền định, thiền quán, chứng được quả A-la-hán. Rồi hoan hỷ với sự kiện này, ngài nói lên lời chánh trí của ngài trong khi trời bắt đầu đổ mưa.  
325. ‘‘Vassati devo yathā sugītaṃ, channā me kuṭikā sukhā nivātā; Tassaṃ viharāmi vūpasanto, atha ce patthayasī pavassa deva. 324. Trời mưa như bài ca,. Khéo hát với nhạc điệu, Ta ngồi trong am thất, An lạc, được che chở, Tại đấy ta an trú, Thoải mái và an tịnh, Thần mưa, nếu ngươi muốn, Hãy mưa, hãy mưa đi. 325. “Trời mưa giống như (đang hát) bài hát hay, cái cốc nhỏ của tôi đã được lợp, thoải mái, kín gió. Tôi sống ở trong ấy, được yên tĩnh. Như vậy, này ông Trời, nếu ông muốn, ông hãy đổ mưa.
326. ‘‘Vassati devo yathā sugītaṃ, channā me kuṭikā sukhā nivātā; Tassaṃ viharāmi santacitto, atha ce patthayasī pavassa deva. 325. Trời mưa như bài ca. Khéo hát với nhạc điệu, Ta ngồi trong am thất, An lạc, được che chở. Tại đấy ta an trú, Tâm tư thật tịnh chỉ, Thần mưa, nếu ngươi muốn, Hãy mưa, hãy mưa đi. 326. Trời mưa giống như (đang hát) bài hát hay, cái cốc nhỏ của tôi đã được lợp, thoải mái, kín gió. Tôi sống ở trong ấy, có tâm an tịnh. Như vậy, này ông Trời, nếu ông muốn, ông hãy đổ mưa.
327. ‘‘Vassati devo …pe…  tassaṃ viharāmi vītarāgo …pe… . 326. Trời mưa như bài ca,. Khéo hát với nhạc điệu, Ta ngồi trong am thất, An lạc, đuợc che chở. Tại đấy ta an trú, Tâm tư, ly tham ái, Thần mưa nếu ngươi muốn, Hãy mưa, hãy mưa đi. 327. Trời mưa giống như (đang hát) bài hát hay, cái cốc nhỏ của tôi đã được lợp, thoải mái, kín gió. Tôi sống ở trong ấy, có sự luyến ái được xa lìa. Như vậy, này ông Trời, nếu ông muốn, ông hãy đổ mưa.
328. ‘‘Vassati devo …pe…  tassaṃ viharāmi vītadoso …pe… . 327. Trời mưa như bài ca,. Khéo hát với nhạc điệu, Ta ngồi trong am thất, An lạc được che chở. Tại đấy ta an trú, Tâm tư ly sân hận, Thần mưa nếu ngươi muốn, Hãy mưa, hãy mưa đi. 328. Trời mưa giống như (đang hát) bài hát hay, cái cốc nhỏ của tôi đã được lợp, thoải mái, kín gió. Tôi sống ở trong ấy, có sự sân hận được xa lìa. Như vậy, này ông Trời, nếu ông muốn, ông hãy đổ mưa.
329. ‘‘Vassati devo …pe…  tassaṃ viharāmi vītamoho; Atha ce patthayasī pavassa devā’’ti. 328. Trời mưa như bài ca,. Khéo hát với nhạc điệu, Ta ngồi trong am thất, An lạc, được che chở. Tại đấy ta an trú, Tâm tư ly si mê, Thần mưa nếu ngươi muốn, Hãy mưa, hãy mưa đi. 329. Trời mưa giống như (đang hát) bài hát hay, cái cốc nhỏ của tôi đã được lợp, thoải mái, kín gió. Tôi sống ở trong ấy, có sự si mê được xa lìa. Như vậy, này ông Trời, nếu ông muốn, ông hãy đổ mưa.”
…  Girimānando thero….   Đại đức trưởng lão Girimānanda đã nói những lời kệ như thế.
4. Sumanattheragāthā (CCI) Sumana (Thera. 38) Kệ ngôn của trưởng lão Sumana.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình thường dân, ở Kosala, tên là Sumana, ngài lớn lên trong hoàn cảnh may mắn. Anh mẹ ngài trở thành vị A-la-hán, sống ở trong rừng, và khi Sumana đến tuổi trưởng thành, cậu ngài cho ngài xuất gia và trao cho ngài đề tài để thiền quán về phía giới hạnh. Cuối cùng, khi Bốn thiền và Năm thắng trí đã chứng được, vị Trưởng lão chỉ cho ngài phương pháp thiền quán, và nhờ vậy ngài chứng quả A-la-hán. Khi đi đến người cậu của ngài, ngài được hỏi về sự thành công và ngài nói lên chánh trí của ngài như sau:  
330. ‘‘Yaṃ patthayāno dhammesu, upajjhāyo anuggahi; Amataṃ abhikaṅkhantaṃ, kataṃ kattabbakaṃ mayā. 329. Điều giáo thọ sư muốn,. Tôi biết trong chánh pháp, Với tôi mong bất tử, Điều phải làm, làm xong. 330. “Điều nào trong số các pháp (tu tập) mà vị thầy tế độ, trong lúc mong mỏi cho con, đã hỗ trợ cho con (là người) đang ước ao sự Bất Tử, điều cần phải thực hiện ấy đã được con thực hiện.
331. ‘‘Anuppatto sacchikato, sayaṃ dhammo anītiho; Visuddhiñāṇo nikkaṅkho, byākaromi tavantike. 330. Pháp tôi đạt, tự chứng,. Không phải chỉ nghe suông, Trí tôi được thanh tịnh, Không còn có nghi ngờ, Mong tôi đứng gần ngài, Nói lên điều xác chứng. 331. Giáo Pháp đã được đạt đến, đã được chứng ngộ bởi bản thân, không phải việc nghe nói suông. Có trí tuệ trong sạch, không còn hoài nghi, con tuyên bố trong sự hiện diện của thầy.
332. ‘‘Pubbenivāsaṃ jānāmi, dibbacakkhu visodhitaṃ; Sadattho me anuppatto, kataṃ buddhassa sāsanaṃ. 331. Tôi biết các đời trước,. Thiên nhãn tôi thanh tịnh, Mục đích tôi đạt được, Lời Phật dạy làm xong. 332. Có Thiên nhãn đã được trong sạch, con biết được đời sống trong thời quá khứ. Mục đích của bản thân đã được con thành tựu, lời dạy của đức Phật đã được thực hành.
333. ‘‘Appamattassa me sikkhā, sussutā tava sāsane; Sabbe me āsavā khīṇā, natthi dāni punabbhavo. 332. Học tập, không phóng dật,. Khéo nghe lời ngài dạy, Mọi lậu hoặc, tôi đoạn, Nay không còn tái sanh. 333. Trong khi con không bị xao lãng, các việc học tập về lời giáo huấn của thầy đã khéo được lắng nghe. Tất cả các lậu hoặc của con đã được cạn kiệt, giờ đây không còn tái sanh nữa.
334. ‘‘Anusāsi maṃ ariyavatā, anukampi anuggahi; Amogho tuyhamovādo, antevāsimhi sikkhito’’ti. 333. Ngài giảng tôi thánh giới,. Từ mẫn ngài hộ trì. Ngài dạy, không vô ích, Tôi đệ tử học ngài. 334. Thầy đã chỉ dạy cho con sự hành trì của bậc Thánh, có lòng thương tưởng, đã hỗ trợ con. Lời giáo huấn của thầy không phải rỗng không, con là người học trò đã được học tập.”[8]
…  Sumano thero….   Đại đức trưởng lão Sumana đã nói những lời kệ như thế.
5. Vaḍḍhattheragāthā (CCII) Vaddha (Thera. 38) Kệ ngôn của trưởng lão Vaḍḍha.
  Sanh trong đời đức Phật hiện tại, tại thành Dhamkaccha trong một dòng họ thường dân, ngài được đặt tên là Vaddha. Khi lớn lên, mẹ ngài cảm thấy âu lo vì vấn đề tái sanh và chết, giao con lại cho bà con, rồi bà xuất gia giữa các Tỷ-kheo-ni. Sau bà trở thành một vị A-ha-hán. Con bà, cũng xuất gia dưới sự hướng dẫn của Veludanta, học lời dạy đức Phật, trở thành một pháp sư giỏi có tiếng. Một hôm, suy nghĩ đến trách nhiệm của mình, ngài nghĩ: ‘Nay ta sẽ đến thăm mẹ ta một mình và không đắp y ngoài’. Rồi ngài đi đến trú xứ các Tỷ-kheo-ni. Mẹ ngài thấy ngài vậy, chỉ trích ngài sao đi đến trú xứ Tỷ-kheo-ni một mình và không đắp y ngoài. Ngài nhận thấy mình có lỗi, trở về tinh xá, ngồi trong phòng thiền định và chứng quả A-la-hán. Ngài nói lên chánh trí của ngài, nhờ lời chỉ trích của mẹ ngài:  
335. ‘‘Sādhū hi kira me mātā, patodaṃ upadaṃsayi; Yassāhaṃ vacanaṃ sutvā, anusiṭṭho janettiyā; Āraddhavīriyo pahitatto, patto sambodhimuttamaṃ. 334. Lành thay, bà mẹ ta,. Kích thích, khích lệ ta, Nghe lời dạy của bà, Được dạy bởi bà mẹ, Ta tinh cần, tinh tấn, Chứng Bồ-đề vô thượng. 335. “Lành thay! Quả đúng vậy mẹ của tôi đã giơ lên cây roi đầu nhọn. Sau khi lắng nghe lời nói của bà, được nhắc nhở bởi đấng sanh thành, tôi có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tính cương quyết, đã đạt đến sự giác ngộ tối thượng.
336. ‘‘Arahā dakkhiṇeyyomhi, tevijjo amataddaso; Jetvā namucino senaṃ, viharāmi anāsavo. 335. Ta xứng được cúng dường,. Ba minh, thấy bất tử. Ta chứng quả La-hán, Xứng đáng được cúng dường, Ba minh đã chứng đạt, Thấy được quả bất tử, Chiến thắng quân Ma vương, Ta sống, không lậu hoặc. 336. Tôi là vị A-la-hán, bậc xứng đáng cúng dường, có ba Minh, đã nhìn thấy sự Bất Tử. Sau khi chiến thắng đạo binh của Namuci (Ma Vương), tôi sống, không có lậu hoặc.
337. ‘‘Ajjhattañca bahiddhā ca, ye me vijjiṃsu āsavā; Sabbe asesā ucchinnā, na ca uppajjare puna. 336. Các lậu hoặc, nội, ngoại,. Trước đã có trong ta, Tất cả bị nhổ sạch, Không còn khởi tên nữa. 337. Các lậu hoặc nào của tôi đã được tìm thấy ở bên trong và bên ngoài, tất cả, không thiếu sót, đã được trừ tuyệt và không sanh lên lại nữa.
338. ‘‘Visāradā kho bhaginī, etamatthaṃ abhāsayi; ‘Apihā nūna mayipi, vanatho te na vijjati’. 337. Bà chị tâm nhu thuận,. Nói lên ý nghĩa này, Trong con và trong ta, Cỏ rừng không còn nữa. 338. Người chị, quả có lòng tự tín, đã nói về sự việc này: ‘Sự không ham muốn quả nhiên cũng có ở nơi chị, và sự tham ái không tìm thấy ở nơi em.’
339. ‘‘Pariyantakataṃ dukkhaṃ, antimoyaṃ samussayo; Jātimaraṇasaṃsāro, natthi dāni punabbhavo’’ti. 338. Khổ đã được chấm dứt,. Thân này thân cuối cùng, Đường sanh tử đứt đoạn, Nay không còn tái sanh. 339. Khổ đau đã được làm cho chấm dứt; đây là xác thân sau chót có sự luân hồi sanh tử, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
…  Vaḍḍho thero….   Đại đức trưởng lão Vaḍḍha đã nói những lời kệ như thế.
6. Nadīkassapattheragāthā (CCIII) Nadikassapa (Thera. 39) Kệ ngôn của trưởng lão Nadīkassapa.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn ở Magadha (Ma-kiệt-đà), là anh của Kassapa. Ngài thiên hẳn đời sống xuất gia, không ưa thích đời sống gia đình, và ngài trở thành một ẩn sĩ. Với ba trăm đồ chúng, ngài sống một đời sống ẩn sĩ trên bờ sông Neranjarà (Ni-liên-thiền), và do vậy ngài được biết và được gọi là Kassapa ở bên sông (Nadi-Kassapa). Ngài được Thế Tôn giáo hóa cùng với hai anh em, như đã được ghi trong Luật tạng. Sau khi Thế Tôn thuyết kinh Lửa Bốc Cháy, ngài chứng quả A-la-hán. Sau đó, suy tư trên thiền chứng, ngài nói lên chánh trí của mình, bằng cách nhổ lên các sai lầm:  
340. ‘‘Atthāya vata me buddho, nadiṃ nerañjaraṃ agā; Yassāhaṃ dhammaṃ sutvāna, micchādiṭṭhiṃ vivajjayiṃ. 339. Thật lợi ích cho ta. Đức Phật đến tại đây, Đến con sông tên gọi Sông Nê-răn-ja-ra, Ta nghe pháp ngài giảng Đoạn tận các tà kiến 340. “Quả thật vì sự lợi ích của tôi, đức Phật đã đi đến dòng sông Nerañjarā. Sau khi lắng nghe Giáo Pháp của Ngài, tôi đã lánh xa tà kiến.
341. ‘‘Yajiṃ uccāvace yaññe, aggihuttaṃ juhiṃ ahaṃ; ‘Esā suddhī’ti maññanto, andhabhūto [andhībhūto (ka.)] puthujjano. 340. Ta hành lễ tế tự,. Đọc cao lời tế lễ, Ta đốt lên lửa thiêng, Đổ cúng dường vào lửa, Nghĩ rằng ta thanh tịnh, Ta thật mù, phàm phu. 341. Là phàm phu, có trạng thái mù quáng, trong khi nghĩ rằng: ‘Việc này là trong sạch,’ tôi đã hy sinh những việc hy sinh các loại, tôi đã cúng tế việc cúng tế ngọn lửa.
342. ‘‘Diṭṭhigahanapakkhando [pakkhanto (sī.), pakkhanno (syā. pī.)], parāmāsena mohito; Asuddhiṃ maññisaṃ suddhiṃ, andhabhūto aviddasu. 341. Lang thang rừng tà kiến,. Bị giới cấm, mờ mắt, Không tịnh, nghĩ thanh tịnh, Mù lòa, ta không thấy 342. Tôi đã lao vào bụi rậm tà kiến, bị mê mờ bởi sự bám víu. Là kẻ ngu si, có trạng thái mù quáng, tôi đã nghĩ rằng (đạo lộ) không trong sạch là (đạo lộ) trong sạch.
343. ‘‘Micchādiṭṭhi pahīnā me, bhavā sabbe padālitā [vidālitā (ka.)]; Juhāmi dakkhiṇeyyaggiṃ, namassāmi tathāgataṃ. 342. Ta đoạn tận tà kiến,. Mọi sanh hữu phá tan, Ta đốt lên ngọn lửa, Xứng đáng được cúng dường, Ta cúi mình đảnh lễ, Bậc Như Lai Điều Ngự. 343. Tà kiến của tôi đã được dứt bỏ, tất cả các hữu đã được phá vỡ, tôi tôn thờ ngọn lửa xứng đáng được cúng dường, tôi lễ bái đức Như Lai.
344. ‘‘Mohā sabbe pahīnā me, bhavataṇhā padālitā; Vikkhīṇo jātisaṃsāro, natthi dāni punabbhavo’’ti. 343. Mọi si mê, ta đoạn,. Hữu ái được phá hủy, Đường sanh tử đoạn tận, Nay không còn tái sanh. 344. Tất cả si mê của tôi đã được dứt bỏ, sự tham ái về hiện hữu đã được phá tan, việc luân hồi tái sanh đã được triệt tiêu, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
… Nadīkassapo thero….   Đại đức trưởng lão Nadīkassapa đã nói những lời kệ như thế.
7. Gayākassapattheragāthā (CCIV) Gayà-Kassapa (Thera. 39) Kệ ngôn của trưởng lão Gayākassapa.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn, câu chuyện ngài giống như câu chuyện của Nadì-Kassapa, chỉ khác ngài chỉ có hai trăm đệ tử và sống ở Gayà, ngài nói lên chánh trí bằng cách tán thán tẩy sạch các điều ác như sau:  
345. ‘‘Pāto majjhanhikaṃ sāyaṃ, tikkhattuṃ divasassahaṃ; Otariṃ udakaṃ sohaṃ, gayāya gayaphagguyā. 344. Buổi sáng, trưa, buổi chiều,. Ba lần trong một ngày, Ta xuống dòng Gà-yà, Sông Ga-ya-phay-gu. 345. “Ba lần trong ngày, buổi sáng, giữa trưa, chiều tối, tôi đây đã lội xuống nước ở tại Gayā, vào kỳ lễ hội Phaggu ở Gayā.
346. ‘‘‘Yaṃ mayā pakataṃ pāpaṃ, pubbe aññāsu jātisu; Taṃ dānīdha pavāhemi’, evaṃdiṭṭhi pure ahuṃ. 345. Các điều ác, ta làm. Trong các đời sống trước, Nay đây ta rửa sạch, Xưa ta tin là vậy. 346. Việc xấu xa nào đã được tôi làm ở những kiếp sống khác trong quá khứ, giờ đây tôi gột sạch nó ở kiếp này; trước đây tôi đã có tà kiến như vậy.
347. ‘‘Sutvā subhāsitaṃ vācaṃ, dhammatthasahitaṃ padaṃ; Tathaṃ yāthāvakaṃ atthaṃ, yoniso paccavekkhisaṃ; 346. Nghe lời nói khéo giảng,. Con đường đủ pháp nghĩa, Với ý nghĩa chân thật, Ta như lý quán sát. 347. Sau khi lắng nghe lời nói và từ ngữ liên quan đến Giáo Pháp và mục đích đã khéo được thuyết giảng, tôi đã quán xét ý nghĩa thật sự đúng theo bản thể, theo đúng đường lối.
348. ‘‘Ninhātasabbapāpomhi, nimmalo payato suci; Suddho suddhassa dāyādo, putto buddhassa oraso. 347. Ta tắm sạch mọi ác,. Ta không uế, trong sạch. Ta trong sạch thuần tịnh, Thừa tự bậc trong sạch, Ta chính là con trai, Con chính tông đức Phật. 348. Tôi có mọi điều xấu xa đã được tắm rửa, không còn vết nhơ, được thanh lọc, tinh khiết, là người thừa tự trong sạch của bậc trong sạch, là người con trai chính thống của đức Phật.
349. ‘‘Ogayhaṭṭhaṅgikaṃ sotaṃ, sabbapāpaṃ pavāhayiṃ; Tisso vijjā ajjhagamiṃ, kataṃ buddhassa sāsana’’nti. 348. Lặn vào dòng Tám chánh,. Ta gột sạch mọi ác, Ba minh ta đạt được, Lời Phật dạy làm xong. 349. Sau khi đã lặn sâu vào dòng nước tám ngành, tôi đã gột sạch mọi điều xấu xa, tôi đã chứng đắc ba Minh; lời dạy của đức Phật đã được thực hành.”
…  Gayākassapo thero….   Đại đức trưởng lão Gayākassapa đã nói những lời kệ như thế.
8. Vakkalittheragāthā (CCV) Vakkali (Thera. 39) Kệ ngôn của trưởng lão Vakkali.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở Sàvatthi, trong một dòng họ Bà-la-môn và được gọi tên Vakkali. Khi đến tuổi trưởng thành, và học xong ba tập Vệ-đà, trở thành thuần thục trong những thành tích Bà-la-môn, ngài thấy bậc Đạo Sư, ngài nhìn không chán thân hình tuyệt vời của đức Phật, và ngài đi theo bậc Đạo Sư. Khi ngài trở về nhà, ngài nghĩ nếu ở lại nhà, ngài sẽ không có dịp luôn luôn thấy được đức Phật. Do vậy, ngài xuất gia, và từ khi ăn uống và tắm rửa, ngài để toàn thì giờ để chiêm ngưỡng đức Phật. Bậc Đạo Sư, chờ đợi thiền quán của ngài được chín muồi, nên trong một thời gian dài, đức Phật không nói gì. Một hôm đức Phật hỏi: ‘Này Vakkali, thân bất tịnh này mà Thầy thấy, đối với Thầy như thế nào? Ai thấy Pháp người ấy tức thấy Ta. Vì rằng thấy Pháp tức là thấy Ta, và thấy ta tức là thấy Pháp’. Nghe lời nói đức Phật, ngài không chiêm ngưỡng thân đức Phật nữa, nhưng ngài chưa bỏ đi xa được. Bậc Đạo Sư nghĩ rằng: ‘Tỷ-kheo này, nếu không được xúc động mạnh, sẽ không thức tỉnh’, nên vào cuối ngày an cư mùa mưa, đức Phật nói: ‘Này Vakkali, hãy đi đi’. Nghe bậc Đạo Sư nói vậy, ngài tự nghĩ ngài phải đi, nhưng nghĩ rằng đời ngài có ý nghĩa gì, nếu không được gặp bậc Đạo Sư, nên ngài có ý định leo lên núi Linh Thứu để gieo mình xuống vực núi tự tử. Đức Phật biết được Vakkali có ý định như vậy, nên sợ ngài phá hoại những điều kiện chứng được thánh quả, nên hiện ra trước mặt ngài và đọc lên bài kệ:  
  Tỷ-kheo nhiều hân hoan,. Tịnh tín giáo pháp Phật, Chứng cảnh giới tịch tịnh, Các hạnh an tịnh lạc.  
  Đức Phật đưa tay và nói: ‘Hãy đến, này Tỷ-kheo!’ Vakkali rất lấy làm sung sướng được nghe lời Phật dạy, thấy được điều gì mình đang làm, đứng trên hư không suy tư đến lời Phật dạy, chứng quả A-la-hán với sự hiểu biết về nghĩa và về pháp. (Đây là những tài liệu được tập sớ của bộ Anguttara Nikàya và tập sớ của Dhammapaca ghi chép lại).  
  Theo những tài liệu khác, Vakkali chưa chứng quả A-la-hán, sau khi nghe lời dạy của bậc Đạo Sư, ngài ở trên núi Linh Thứu, phát triển thiền quán. Thế Tôn cho ngài một đề tài tu tập, nhưng vì quá đói và bị tê liệt nên ngài không chứng quả được. Biết vậy, Thế Tôn nói với ngài như sau:  
350. ‘‘Vātarogābhinīto tvaṃ, viharaṃ kānane vane; Paviṭṭhagocare lūkhe, kathaṃ bhikkhu karissasi. 349. Bị bệnh gió chi phối,. Thầy sống trong rừng sâu, Chỗ khất thực hạn chế, Thân gầy mòn ốm yếu, Tỷ-kheo sẽ làm gì? Với thân thể như vậy? 350. “Trong khi sống ở trong khu rừng là cánh rừng rộng lớn, có chỗ khất thực bị hạn chế, khốn khó, này tỳ khưu, ngươi sẽ làm thế nào?
  Vị Trưởng lão nói lên sự hân hoan thường xuyên của mình, nhờ được sự an lạc siêu nhân:  
351. ‘‘Pītisukhena vipulena, pharamāno samussayaṃ; Lūkhampi abhisambhonto, viharissāmi kānane. 350. Thân con được tràn ngập,. Với hỷ lạc tỏa rộng, Dầu có bị gầy ốm, Con sẽ sống trong rừng. 351. Trong khi thấm nhuần thân xác với niềm hỷ lạc bao la, trong khi chịu đựng dầu là sự khốn khó, con sẽ sống ở cánh rừng rộng lớn.
352. ‘‘Bhāvento satipaṭṭhāne, indriyāni balāni ca; Bojjhaṅgāni ca bhāvento, viharissāmi kānane. 351. Tu tập Bốn niệm xứ,. Năm căn và Năm lực, Tu tập các Giác chi, Con sẽ sống trong rừng. 352. Trong khi tu tập các sự thiết lập niệm, các quyền, và các lực, và trong khi tu tập các chi phần đưa đến giác ngộ, con sẽ sống ở cánh rừng rộng lớn.
353. ‘‘Āraddhavīriye pahitatte, niccaṃ daḷhaparakkame [āraddhavīriyo pahitatto, niccaṃ daḷhaparakkamo (sī.)]; Samagge sahite disvā, viharissāmi kānane. 352. Con thấy bạn đồng tu,. Sống hòa hiệp, dõng mãnh, Luôn kiên trì tinh tấn, Con sẽ sống trong rừng. 353. Có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tính cương quyết, thường xuyên có sự ra sức vững chãi, sau khi nhìn thấy những vị có sự hợp nhất, đã được liên kết, con sẽ sống ở cánh rừng rộng lớn.
354. ‘‘Anussaranto sambuddhaṃ, aggaṃ dantaṃ samāhitaṃ; Atandito rattindivaṃ, viharissāmi kānane’’ti. 353. Tùy niệm Phật thiền định,. Bậc Tối thượng Điều Ngự, Ngày đêm không biếng nhác, Con sẽ sống trong rừng. 354. Ngày và đêm không biếng nhác, trong khi tưởng niệm về đấng Toàn Giác, bậc Cao Cả, đã được rèn luyện, đã được định tĩnh, con sẽ sống ở cánh rừng rộng lớn.”
  Khi nói vậy, ngài phát triển thiền quán và ngay khi ấy chứng quả A-la-hán. Đại đức trưởng lão Vakkali đã nói những lời kệ như thế.
…  Vakkalitthero….    
9. Vijitasenattheragāthā (CCVI) Vigitasena (Thera. 39) Kệ ngôn của trưởng lão Vijitasena.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ra trong một gia đình huấn luyện voi ở nước Kosala, và được đặt tên là Vigitasena. Những người cậu bên ngoại, Sena và Upasena cả hai đã xuất gia và chứng quả A-la-hán. Vigitasena sau khi đã thuần thục nghề của mình, thấy thần thông song hành của bậc Đạo Sư khởi lòng tin, và theo bản năng tự nhiên, xin xuất gia dưới sự hướng dẫn của các người cậu. Nhờ các người cậu giảng dạy, ngài đạt đến thiền quán, nhưng tâm trí ngài thiên về lý luận chạy theo những vật bên ngoài, nên ngài giảng dạy cho tâm trí ngài như sau:  
355. ‘‘Olaggessāmi te citta, āṇidvāreva hatthinaṃ; Na taṃ pāpe niyojessaṃ, kāmajāla [kāmajālaṃ (syā.)] sarīraja [sarīrajaṃ (syā. ka.)]. 354. Ta sẽ chế ngự ngươi,. Như cửa khóa ngăn voi, Ta sẽ không thúc ngươi, Này tâm trong điều ác, Ngươi chính là lưới dục, Ngươi do thân sanh ra. 355. “Này tâm, ta sẽ buộc chặt ngươi tựa như buộc chặt con voi ở chốt cửa. Này mạng lưới dục vọng, này kẻ sanh ra thân thể, ta sẽ không xúi giục ngươi về việc xấu xa.
356. ‘‘Tvaṃ olaggo na gacchasi [na gañchisi (pī)], dvāravivaraṃ gajova alabhanto; Na ca cittakali punappunaṃ, pasakka [pasahaṃ (sī. syā. pī.)] pāparato carissasi. 355. Chế ngự ngươi không đi,. Như voi, không cửa mở, Này tâm, kẻ phù thủy, Dầu ngươi cố gắng mãi, Ngươi không còn lang thang, Ưa thích làm điều ác. 356. Đã bị buộc chặt, ngươi không di chuyển, tựa như con voi trong khi không đạt được việc mở ra cánh cửa. Này tâm xảo quyệt, trong khi còn tiếp tục thể hiện sức mạnh, ưa thích điều xấu xa, ngươi sẽ không đi tới lui.
357. ‘‘Yathā kuñjaraṃ adantaṃ, navaggahamaṅkusaggaho; Balavā āvatteti akāmaṃ, evaṃ āvattayissaṃ taṃ. 356. Như người cầm câu móc,. Ngăn mãi voi chưa thuần, Như người dùng sức mạnh, Cải hóa kẻ không muốn, Cũng vậy đối với ngươi, Ta sẽ cải hóa ngươi. 357. Giống như người có sức mạnh, cầm cái móc câu, làm cho con voi mới bị bắt, chưa được huấn luyện, phải xoay chuyển nghịch với ước muốn, tương tự như vậy ta sẽ khiến ngươi xoay chuyển.
358. ‘‘Yathā varahayadamakusalo, sārathi pavaro dameti ājaññaṃ; Evaṃ damayissaṃ taṃ, patiṭṭhito pañcasu balesu. 357. Như bánh xe tuyệt hảo,. Khéo huấn luyện ngựa hay, Cũng vậy ta điều ngươi, Dựa lên trên Năm lực. 358. Giống như người đánh xe xuất chúng, thiện xảo trong việc thuần phục ngựa quý, huấn luyện con ngựa thuần chủng, tương tự như thế, đã được đứng vững ở năm lực, ta sẽ huấn luyện ngươi.
359. ‘‘Satiyā taṃ nibandhissaṃ, payutto te damessāmi [payatatto vodapessāmi (sī.)]; Vīriyadhuraniggahito, na yito dūraṃ gamissase cittā’’ti. 358. Ta sẽ cột chặt ngươi,. Với chánh niệm vững chắc, Tự mình đã chế ngự, Ta sẽ chế ngự ngươi, Nhờ sức nặng tinh tấn, Ngươi được ta áp lực, Do vậy, hỡi này tâm, Ngươi sẽ không xa ta. 359. Ta sẽ trói buộc ngươi bằng niệm. Có bản thể trong sạch, ta sẽ làm cho ngươi sạch sẽ. Này tâm, bị khống chế bởi cái ách tinh tấn, bị kiềm chế, ngươi sẽ không đi xa.”
… Vijitaseno thero….   Đại đức trưởng lão Vijitasena đã nói những lời kệ như thế.
10. Yasadattattheragāthā (CCVII) Yasadatta (Thera. 40) Kệ ngôn của trưởng lão Yasadatta.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh trong dòng họ vua Malla, được đặt tên là Yasadatta, ngài được học ở Takkasilà. Sau khi đi du hành vói du sĩ Sabhiya, cả hai đến Sàvatthi, tại đây hỏi Thế Tôn một số câu hỏi. Yasadatta ngồi nghe những câu trả lời, ý muốn ưa chỉ trích: ‘Ta sẽ nêu lên những khuyết điểm trong những câu trả lời của Sa-môn Gotama’. Thế Tôn hiểu tâm tư của Yasadatta, nên sau khi nói kinh Sabhiya, Thế Tôn giáo huấn Yasadatta như sau:  
360. ‘‘Upārambhacitto dummedho, suṇāti jinasāsanaṃ; Ārakā hoti saddhammā, nabhaso pathavī yathā. 359. Với tâm, muốn chỉ trích,. Kẻ ngu nghe lời dạy Của bậc đã thắng trận, Người ấy, thái độ vậy, Rất xa vời Chánh pháp, Như đất xa bầu trời. 360. “Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị cách xa khỏi Chánh Pháp, giống như trái đất so với bầu trời.
361. ‘‘Upārambhacitto dummedho, suṇāti jinasāsanaṃ; Parihāyati saddhammā, kāḷapakkheva candimā. 360. Với tâm muốn chỉ trích,. Kẻ ngu nghe lời dạy Của bậc đã chiến thắng, Người ấy thái độ vậy, Tổn giảm xa Chánh pháp, Như trăng nửa tháng đen. 361. Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị suy giảm về Chánh Pháp, tựa như mặt trăng ở hạ huyền.
362. ‘‘Upārambhacitto dummedho, suṇāti jinasāsanaṃ; Parisussati saddhamme, maccho appodake yathā. 361. Với tâm muốn chỉ trích,. Kẻ ngu nghe lời dạy Của bậc đã chiến thắng, Người ấy thái độ vậy, Khô cạn trong diệu pháp, Như cá mắc nước cạn. 362. Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) bị hao mòn về Chánh Pháp, giống như con cá ở nơi ít nước.
363. ‘‘Upārambhacitto dummedho, suṇāti jinasāsanaṃ; Na virūhati saddhamme, khette bījaṃva pūtikaṃ. 362. Với tâm muốn chỉ trích,. Kẻ ngu nghe lời dạy Của bậc đã chiến thắng, Người ấy thái độ vậy, Không lớn trong diệu pháp, Như giống thối trong ruộng. 363. Kẻ có trí tồi lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm thù nghịch, (kẻ ấy) không tiến triển trong Chánh Pháp, tựa như hạt giống bị thối ở cánh đồng.
364. ‘‘Yo ca tuṭṭhena cittena, suṇāti jinasāsanaṃ; Khepetvā āsave sabbe, sacchikatvā akuppataṃ; Pappuyya paramaṃ santiṃ, parinibbātināsavo’’ti. 363. Ai tâm tư thỏa mãn,. Nghe bậc Thánh giảng dạy, Từ bỏ mọi lậu hoặc, Chứng ngộ không dao động, Đạt tịch tịnh tối thượng, Chứng Niết-bàn vô lậu. 364. Và người nào lắng nghe Giáo Pháp của đấng Chiến Thắng với tâm hân hoan, sau khi tiêu trừ tất cả các lậu hoặc, sau khi chứng ngộ trạng thái không bị chuyển dịch, sau khi đạt được sự an tịnh tuyệt đối, (vị ấy) Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
…  Yasadatto thero….   Đại đức trưởng lão Yasadatta đã nói những lời kệ như thế.
11. Soṇakuṭikaṇṇattheragāthā (CCVIII) Sonakutikanna (Thera. 40) Kệ ngôn của trưởng lão Soṇakuṭikaṇṇa.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh ở xứ Avanti, trong một gia đình rất giàu có, và được đặt tên là Sona. Vì đeo một bông tai đắt giá, ngài cũng được gọi là Koti hay Kutikanna (người có lỗ tai đắt giá). Lớn lên, ngài trở thành một điền chủ, và khi Trưởng lão Mahà Kaccàna ở gần bên nhà, ngài cung cấp các vật dụng nhu yếu, nghe Chánh pháp, cuối cùng cảm thấy dao động, xin xuất gia với Trưởng lão Kaccàna. Rủ thêm mười người một cách khó khăn, ngài xin phép vị Trưởng lão đi đến Sàvatthi để yết kiến Thế Tôn. Được phép ngủ đêm trong chái phòng đức Phật, và buổi sáng được mời tụng đọc, ngài được khen khi đọc mười sáu Athaka. Khi đọc đến câu: ‘Thấy sự nguy hiểm của một đời thế tục’, ngài phát triển thiền quán và chứng quả A-la-hán.  
  Khi ngài được đức Bổn Sư bằng lòng về ba vấn đề mà vị Trưởng lão Mahà Kaccàna giao cho ngài hỏi, ngài trở về chỗ cũ và thưa lại với bậc giáo thọ sư của mình (Sự kiện này được ghi chép đầy đủ trong tập Udàna và tập sớ Anguttara, nhưng ở đây lại nói ngài chứng quả A-la-hán khi còn học tập với vị giáo thọ sư của mình).  
  Rồi, trong khi sống, thọ hưởng an lạc giải thoát, ngài ôn lại sự thanh đạt của mình, và với tâm hoan hỷ, ngài nói lên những bài kệ như sau:  
365. ‘‘Upasampadā ca me laddhā, vimutto camhi anāsavo; So ca me bhagavā diṭṭho, vihāre ca sahāvasiṃ. 364. Ta thọ được đại giới,. Ta giải thoát vô lậu, Thế Tôn, ta được thấy, Ta sống chung tinh xá. 365. “Tôi đã đạt được sự tu lên bậc trên, và tôi đã được giải thoát, không còn lậu hoặc. Tôi đã được diện kiến đức Thế Tôn, và đã ngụ chung trú xá.
366. ‘‘Bahudeva rattiṃ bhagavā, abbhokāsetināmayi; Vihārakusalo satthā, vihāraṃ pāvisī tadā. 365. Thế Tôn, trải nhiều ngày. Sống ngay ở ngoài trời, Đạo Sư khéo an trú, Rồi mới vào tịnh xá. 366. Đức Thế Tôn đã trải qua phần nhiều của đêm ở ngoài trời. Rồi bậc Đạo Sư, vị thiện xảo về việc an trú, đã đi vào trú xá.
367. ‘‘Santharitvāna saṅghāṭiṃ, seyyaṃ kappesi gotamo; Sīho selaguhāyaṃva, pahīnabhayabheravo. 366. Trải y Tăng-già-lê. Gotama nằm xuống, Như sư tử hang đá, Đoạn tận mọi sợ hãi. 367. Sau khi trải ra tấm y hai lớp, đức Gotama đã chuẩn bị việc nằm, tựa như con sư tử ở trong hang đá, với sự sợ hãi và khiếp đảm đã được dứt bỏ.
368. ‘‘Tato kalyāṇavākkaraṇo, sammāsambuddhasāvako; Soṇo abhāsi saddhammaṃ, buddhaseṭṭhassa sammukhā. 367. Khéo lựa lời tốt lành,. Đệ tử bậc Chánh Giác, Trước đức Phật tuyệt hảo, Sona thuyết diệu pháp. 368. Sau đó, Soṇa, vị đệ tử của bậc Chánh Đẳng Giác, vị có sự ăn nói tốt đẹp, đã nói về Chánh Pháp trong sự hiện diện của đức Phật tối thượng.
369. ‘‘Pañcakkhandhe pariññāya, bhāvayitvāna añjasaṃ; Pappuyya paramaṃ santiṃ, parinibbissatyanāsavo’’ti. 368. Liễu Tri Năm thủ uẩn,. Tu tập con đường Thánh Đạt an tịnh tối thượng, Chứng Niết-bàn vô lậu. 369. Sau khi đã biết toàn diện về năm uẩn, sau khi đã tu tập về Đạo Lộ, sau khi đạt được sự an tịnh tuyệt đối, vị ấy Niết Bàn, không còn lậu hoặc.”
…  Soṇo kuṭikaṇṇathero….   Đại đức trưởng lão Soṇakuṭikaṇṇa đã nói những lời kệ như thế.
12. Kosiyattheragāthā (CCIX) Kosiya (Thera. 41) Kệ ngôn của trưởng lão Kosiya.
  Trong thời Đức Phật hiện tại, ngài sanh trong một gia đình Bà-la-môn ở Magadha và được đặt tên là Sona. Khi đến tuổi trưởng thành, ngài hay đến nghe Trưởng lão Sàriputta thuyết pháp, tin tưởng ở nơi giáo lý, xuất gia và không bao lâu chứng quả A-la-hán. Rồi ôn lại quá trình giải thoát của mình, ngài tán thán đức hạnh và sức mạnh quyết định hành thiện của các bậc Thánh với những bài kệ sau đây:  
370. ‘‘Yo ve garūnaṃ vacanaññu dhīro, vase ca tamhi janayetha pemaṃ; So bhattimā nāma ca hoti paṇḍito, ñatvā ca dhammesu visesi assa. 369. Ai hiểu những lời dạy. Của các bậc Đạo Sư, Bậc trí sống an trú, Phát sanh lòng ái niệm, Bậc trí có lòng tin, Biết thù thắng trong Pháp. 370. “Thật vậy, vị nào thông minh, hiểu được lời nói của các bậc thầy, có thể sống theo lời dạy ấy và còn có thể làm sanh khởi lòng yêu mến, vị ấy được gọi là có sự tôn sùng và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
371. ‘‘Yaṃ āpadā uppatitā uḷārā, nakkhambhayante paṭisaṅkhayantaṃ; So thāmavā nāma ca hoti paṇḍito, ñatvā ca dhammesu visesi assa. 370. Vị khi nạn lớn khởi,. Suy tư không tê liệt, Bậc trí có kiên trì, Biết thù thắng trong Pháp. 371. Vị nào không bị các nỗi bất hạnh lớn lao đã sanh khởi làm cho dao động trong khi quán xét, vị ấy được gọi là có sự dõng mãnh và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
372. ‘‘Yo ve samuddova ṭhito anejo, gambhīrapañño nipuṇatthadassī; Asaṃhāriyo nāma ca hoti paṇḍito, ñatvā ca dhammesu visesi assa. 371. Ai vững trú như biển,. Không dục, trí tuệ sâu, Thấy rõ chân nghĩa lý, Tế nhị và vi diệu, Bậc trí trú bất động, Biết thù thắng trong Pháp. 372. Thật vậy, vị nào vững vàng, tựa như biển cả, không còn dục vọng, có trí tuệ thâm sâu, có sự nhìn thấy ý nghĩa vi tế, vị ấy được gọi là không thể dời đổi và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
373. ‘‘Bahussuto dhammadharo ca hoti, dhammassa hoti anudhammacārī; So tādiso nāma ca hoti paṇḍito, ñatvā ca dhammesu visesi assa. 372. Bậc nghe nhiều, trì Pháp,. Hành pháp và Tùy pháp, Bậc trí gọi như thị, Biết thù thắng trong Pháp. 373. Và vị nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, là thuộc về Giáo Pháp, có sự hành trì thuận theo Giáo Pháp, vị có đức tính như thế ấy được gọi là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.
374. ‘‘Atthañca yo jānāti bhāsitassa, atthañca ñatvāna tathā karoti; Atthantaro nāma sa hoti paṇḍito, ñatvā ca dhammesu visesi assā’’ti. 373. Ai hiểu nghĩa lời nói,. Biết nghĩa, hành như thật, Bậc trí gọi nội nghĩa, Biết thù thắng trong Pháp. 374. Vị nào hiểu biết ý nghĩa của lời đã được thuyết giảng, và sau khi hiểu được ý nghĩa thì thực hành theo như thế, vị ấy được gọi là ở bên trong ý nghĩa và là vị sáng suốt, sau khi hiểu biết về các pháp, vị ấy có thể có sự chứng đắc.”
…   Kosiyo thero…. Pañcakanipāto niṭṭhito.   Đại đức trưởng lão Kosiya đã nói những lời kệ như thế.
Tatruddānaṃ –   TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
Rājadatto subhūto ca, girimānandasumanā;   “Vị Rājadatta, và vị Subhūta, vị Girimānanda, và vị Sumana, vị Vaḍḍha và trưởng lão Kassapa, vị Gayākassapa, và vị Vakkali.
Vaḍḍho ca kassapo thero, gayākassapavakkalī.   Vị Vijita, và vị Yasadatta, vị Soṇa, vị có tên Kosiyasa. Có sáu mươi lăm câu kệ và ở đây là mười hai vị trưởng lão.”
Vijito yasadatto ca, soṇo kosiyasavhayo;   Nhóm Năm được chấm dứt.
Saṭṭhi ca pañca gāthāyo, therā ca ettha dvādasāti.