17. Tiṃsanipāto
Chương XVII – Phẩm Ba Mươi Kệ
17. Nhóm ba mươi
Tipitaka.org Việt dịch: HT. Thích Minh Châu Việt dịch: TK. Indacanda
1. Phussattheragāthā (CCLVIII) Phussa (Thera. 87) Kệ ngôn của trưởng lão Phussa.
  Trong thời đức Phật hiện tại, ngài sanh làm con một vị vua trị vì một tỉnh, được đặt tên là Phussa, và được giáo dục trong mọi tài năng của thanh niên hoàng tộc. Nhưng ngài có tâm hướng khác thường, không thiên về thế tục, nên khi nghe một vị Trưởng lão thuyết pháp, ngài khởi lòng tin và xuất gia. Tu tập thiền định, ngài phát triển thiền quán và sau một thời gian, chứng được sáu thắng trí.  
  Một hôm, một ẩn sĩ tên Pandara-gotta nghe ngài thuyết pháp, thấy xung quanh có một số Tỷ-kheo giới đức nghiêm minh, tu tập, chế ngự thân và tâm, vị ẩn sĩ suy nghĩ: ‘Hệ thống này thật đáng tin tưởng, mong rằng hệ thống này được tồn tại!’. Rồi vị ấy hỏi ngài về tương lai sự tiến bộ các Tỷ-kheo như thế nào? Ngài trả lời với những bài kệ như sau, riêng bài kệ 949 do các nhà kiết tập đặt thêm vào:  
949. Pāsādike bahū disvā, bhāvitatte susaṃvute; 949. ẩn sĩ Pan-đa-ra,. Thấy nhiều vị thành tín, Tự ngã có tu tập, Khéo hộ trì chế ngự Ngài mới đặt câu hỏi, Với vị tên Phussa. 949. “Sau khi nhìn thấy nhiều người có tín tâm, có bản thân đã được tu tập, khéo được thu thúc, vị ẩn sĩ thuộc dòng họ Paṇḍara đã hỏi vị tên Phussa rằng:
Isi paṇḍarasagotto [paṇḍarassa gotto (sī.)], apucchi phussasavhayaṃ.    
950. ‘‘Kiṃchandā kimadhippāyā, kimākappā bhavissare; Anāgatamhi kālamhi, taṃ me akkhāhi pucchito’’. 950. Trong thời gian tương lai,. Sẽ có ước muốn gì? Sẽ có chí nguyện gì? Sẽ có cử chỉ gì? Mong ngài hãy trả lời, Câu hỏi của chúng tôi. 950. ‘Vào thời vị lai, người ta sẽ có ước muốn thế nào, ý định thế nào, thái độ thế nào? Được hỏi, xin ngài hãy nói cho tôi điều ấy.’
951. ‘‘Suṇohi vacanaṃ mayhaṃ, isipaṇḍarasavhaya; Sakkaccaṃ upadhārehi, ācikkhissāmyanāgataṃ. 951. ẩn sĩ Pan-đa-ra,. Hãy nghe lời ta nói, Hãy thọ trì cẩn thận, Ta sẽ nói tương lai. 951. ‘Này vị ẩn sĩ có tên Paṇḍara, hãy lắng nghe lời nói của tôi, hãy tiếp thu một cách nghiêm chỉnh, tôi sẽ nói về vị lai.
952. ‘‘Kodhanā upanāhī ca, makkhī thambhī saṭhā bahū; Ussukī nānāvādā ca, bhavissanti anāgate. 952. Phẫn nộ và hiềm hận,. Che đậy và cứng đầu, Nhiều lừa đảo ganh tị, Tương lai nhiều loại vậy, 952. Vào thời vị lai, sẽ có nhiều kẻ (có bản chất) giận dữ, thù hằn, bôi nhọ, ngoan cố, lừa lọc, ganh tỵ, và nhiều lập luận khác nhau.
953. ‘‘Aññātamānino dhamme, gambhīre tīragocarā; Lahukā agaru dhamme, aññamaññamagāravā. 953. Họ tự cho có trí,. Pháp sâu, chỉ đến bờ, Họ khinh nhờn Chánh pháp, Họ không kính trọng nhau. 953. Những kẻ có hành xứ ở bờ (bên này), với sự tự mãn là đã biết về Giáo Pháp thâm sâu, xem nhẹ và không kính trọng Giáo Pháp, không có sự kính trọng lẫn nhau.
954. ‘‘Bahū ādīnavā loke, uppajjissantyanāgate; Sudesitaṃ imaṃ dhammaṃ, kilesessanti [kilesissanti (sī.), kilisissanti (syā. ka.)] dummatī. 954. Nhiều nguy hiểm ở đời,. Sẽ xảy ra tương lai, Pháp được khéo giảng này, Kẻ ngu làm uế nhiễm. 954. Vào thời vị lai, nhiều điều bất lợi sẽ sanh khởi ở thế gian. Những kẻ có trí tồi sẽ làm ô nhiễm Giáo Pháp đã khéo được thuyết giảng này.
955. ‘‘Guṇahīnāpi saṅghamhi, voharantā visāradā; Balavanto bhavissanti, mukharā assutāvino. 955. Trong Tăng chúng, những vị,. Có đức hạnh hạ liệt, Họ thường hay tuyên bố, Có tự tín, không sợ, Kẻ không học, lắm lời, Sẽ đứng vào thế mạnh. 955. Thậm chí những kẻ thấp thỏi về đức hạnh sẽ có tự tin trong khi phát biểu ở hội chúng; những kẻ không nghe nhiều, lắm lời, sẽ trở nên có thế lực.
956. ‘‘Guṇavantopi saṅghamhi, voharantā yathātthato; Dubbalā te bhavissanti, hirīmanā anatthikā. 956. Trong Tăng chúng, những vị,. Có giới hạnh tốt đẹp, Khi họ có tuyên bố, Tuyên bố đúng sự thật, Họ thường ở thể yếu, Hổ thẹn thiếu nhiệt thành. 956. Ngay cả những vị có đức hạnh, trong khi phát biểu đúng theo sự thật ở hội chúng, những vị ấy sẽ trở nên yếu thế, rụt rè, không nhiệt tâm.
957. ‘‘Rajataṃ jātarūpañca, khettaṃ vatthumajeḷakaṃ; Dāsidāsañca dummedhā, sādiyissantyanāgate. 957. Bạc, vàng và đồng ruộng,,. Đất đai, dê và cừu, Nô tỳ nữ và trai, Kẻ ngu si vô trí, Sẽ thâu nhận tất cả, Trong tương lai là vậy. 957. Vào thời vị lai, những kẻ có trí tồi sẽ ưng thuận bạc và vàng, ruộng, vườn, dê, cừu, tôi trai, và tớ gái.
958. ‘‘Ujjhānasaññino bālā, sīlesu asamāhitā;. Unnaḷā vicarissanti, kalahābhiratā magā. 958. Kẻ ngu dễ nóng giận,. Không định tĩnh trong giới, Kiêu ngạo, đi đó đây, Như thú ưa đánh nhau. 958. Có tánh ưa phàn nàn, ngu si, không chuyên chú vào các giới, kiêu ngạo, họ đi đó đây, thích thú việc gây gỗ như là những con thú.
959. ‘‘Uddhatā ca bhavissanti, nīlacīvarapārutā; Kuhā thaddhā lapā siṅgī, carissantyariyā viya. 959. Họ trở thành tháo động,. Thường đắp y màu xanh, Lừa đảo và ngoan cố, Lắm mồm, ăn nói giả, Họ bắt chước giả bộ, Như bậc Thánh thời xưa. 959. Và họ sẽ trở nên tự kiêu, trùm lên lá y màu xanh, dối trá, bướng bỉnh, nói nhiều, soi mói, và sẽ cư xử tựa như bậc Thánh.
960. ‘‘Telasaṇṭhehi kesehi, capalā añjanakkhikā;. Rathiyāya gamissanti, dantavaṇṇikapārutā. 960. Với tóc bôi dầu láng,. Dao động, mắt vẽ xanh, Đắp y màu trắng ngà, Họ qua lại trên đường. 960. Với đầu tóc được bôi dầu, có tính chao đảo, mắt được tô màu, trùm y màu ngà, họ sẽ đi ở đường lộ.
961. ‘‘Ajegucchaṃ vimuttehi, surattaṃ arahaddhajaṃ; Jigucchissanti kāsāvaṃ, odātesu samucchitā [odāte susamucchitā (sī.)]. 961. Y vàng được khéo nhuộm,. Lá cờ bậc La-hán, Được các bậc giải thoát, Đắp mang không nhàm chán, Còn họ chán y vàng, Ái luyến đắp màu trắng. 961. Bị say đắm các y phục màu trắng, họ nhờm gớm y ca-sa, biểu hiện của vị A-la-hán, được khéo nhuộm, không bị nhờm gớm bởi các bậc đã được giải thoát.
962. ‘‘Lābhakāmā bhavissanti, kusītā hīnavīriyā;. Kicchantā vanapatthāni, gāmantesu vasissare. 962. Họ trở thành tham lợi,. Biếng nhác, ít tinh cần, Khó sống rừng hoang vu, Thích sống gần xóm làng. 962. Họ sẽ trở nên có sự ham muốn về lợi lộc, biếng nhác, có sự tinh tấn thấp thỏi, trong khi cảm thấy mệt nhọc về các chốn rừng rú xa xôi, họ sẽ sống ở gần các xóm làng.
963. ‘‘Ye ye lābhaṃ labhissanti, micchājīvaratā sadā; Te teva anusikkhantā, bhajissanti asaṃyatā. 963. Những ai sợ được lợi,. Luôn luôn ưa tà mạng, Họ học đòi người ấy, Thân cận, không tự chế. 963. Những kẻ nào luôn thích thú việc tà mạng sẽ nhận lãnh lợi lộc, chính những kẻ ấy, trong khi không học tập, sẽ đi loanh quanh, không tự kiềm chế.
964. ‘‘Ye ye alābhino lābhaṃ, na te pujjā bhavissare; Supesalepi te dhīre, sevissanti na te tadā. 964. Những ai không được lợi,. Họ không trọng không kính, Bậc khả kính, Hiền trí, Họ không có thân cận. 964. Những vị nào không nhận được lợi lộc, những vị ấy sẽ không được tôn vinh. Khi ấy, ngay cả những bậc sáng trí vô cùng hiền thiện, họ cũng sẽ không thân cận.
965. ‘‘Milakkhurajanaṃ rattaṃ [pilakkharajanaṃ rattaṃ (?)], garahantā sakaṃ dhajaṃ; Titthiyānaṃ dhajaṃ keci, dhārissantyavadātakaṃ. 965. Khinh cờ hiệu của mình,. Ưa thích màu ngoại sắc, Có kẻ mang y trắng, Lá cờ hiệu ngoại đạo. 965. Trong khi chê trách biểu hiện được nhuộm màu cây sung của mình, một số kẻ sẽ mặc màu trắng là biểu hiện của các ngoại đạo.
966. ‘‘Agāravo ca kāsāve, tadā tesaṃ bhavissati; Paṭisaṅkhā ca kāsāve, bhikkhūnaṃ na bhavissati. 966. Không kính y màu vàng,. Thời ấy họ là vậy, Chờ đợi màu y vàng, Không phải của Tỷ-kheo. 966. Khi ấy, sự không kính trọng y ca-sa sẽ khởi lên ở những kẻ ấy, và sự quán tưởng về y ca-sa sẽ không có ở các tỳ khưu.
967. ‘‘Abhibhūtassa dukkhena, sallaviddhassa ruppato; Paṭisaṅkhā mahāghorā, nāgassāsi acintiyā. 967. Bị đau khổ chinh phục,. Bị quặn đau tên đâm, Chờ đợi đại khủng bố. Voi ta không nghĩ nghì. 967. Con voi khi bị thống trị bởi sự đau đớn, bị đâm xuyên bởi mũi tên, bị kích động, mặc dầu có sự kinh sợ khủng khiếp, sự quán tưởng đã khởi đến con voi là điều không thể nghĩ bàn.
968. ‘‘Chaddanto hi tadā disvā, surattaṃ arahaddhajaṃ; Tāvadeva bhaṇī gāthā, gajo atthopasaṃhitā’’ . 968. Khi bậc sáu ngà thấy,. Cờ La-hán khéo nhuộm, Voi nói lên những kệ, Liên hệ đến mục đích. 968. Bởi vì con voi Chaddanta, vào lúc ấy, sau khi nhìn thấy biểu hiện của vị A-la-hán khéo được nhuộm màu, ngay khi ấy đã nói lên những kệ ngôn gắn liền với điều lợi ích:
969. [dha. pa. 9; jā. 1.2.141; 1.16.122] ‘‘Anikkasāvo kāsāvaṃ, yo vatthaṃ paridhassati [paridahissati (sī. syā.)]; Apeto damasaccena, na so kāsāvamarahati. 969. Ai sẽ mặc cà-sa,. Tâm chưa rời uế trược, Không tự chế, không thực, Không xứng áo cà-sa. 969. ‘Kẻ nào, có uế trược chưa lìa, sẽ khoác lên tấm vải ca-sa, (nếu) bỏ bê việc rèn luyện và sự chân thật, kẻ ấy không xứng với y ca-sa.
970. ‘‘Yo ca vantakāsāvassa, sīlesu susamāhito; Upeto damasaccena, sa ve kāsāvamarahati. 970. Ai rời bỏ uế trược,. Khéo định trong giới luật, Tự nhiếp phục chơn thực, Thật xứng áo cà-sa. 970. Và vị nào có uế trược được rũ bỏ, khéo chuyên chú vào các giới, gắn bó việc rèn luyện và sự chân thật, vị ấy quả nhiên xứng với y ca-sa.’[5]
971. ‘‘Vipannasīlo dummedho, pākaṭo kāmakāriyo; Vibbhantacitto nissukko, na so kāsāvamarahati. 971. Phá giới, trí hạ liệt,. Không tự chế, tham dục, Tâm loạn, thiếu phấn chấn, Không xứng áo cà-sa. 971. Có giới bị hư hỏng, có trí tồi, buông lung, hành động theo ý thích, có tâm bị tản mạn, thiếu năng nổ, kẻ ấy không xứng với y ca-sa.
972. ‘‘Yo ca sīlena sampanno, vītarāgo samāhito;. Odātamanasaṅkappo, sa ve kāsāvamarahati. 972. Ai đầy đủ giới hạnh,. Ly tham, có định tĩnh, Tâm tư thật trinh bạch, Vị ấy xứng áo cà-sa. 972. Và vị nào, được đầy đủ về giới, có luyến ái đã được xa lìa, được định tĩnh, có tâm ý và sự suy tư trong sạch, vị ấy quả nhiên xứng với y ca-sa.
973. ‘‘Uddhato unnaḷo bālo, sīlaṃ yassa na vijjati; Odātakaṃ arahati, kāsāvaṃ kiṃ karissati. 973. Ai kiêu ngạo phóng đãng,. Ngu si, không giới hạnh, Xứng đáng mặc áo trắng, Làm gì có cà-sa. 973. Kẻ tự kiêu, kiêu ngạo, ngu dốt, đối với kẻ này thì giới không có, là kẻ xứng với y phục màu trắng, (kẻ ấy) sẽ làm gì với y ca-sa?
974. ‘‘Bhikkhū ca bhikkhuniyo ca, duṭṭhacittā anādarā; Tādīnaṃ mettacittānaṃ, niggaṇhissantyanāgate..  974. Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni,. Tâm uế, không tin kính, Tương lai sẽ ức hiếp, Đối vị có tâm từ. 974. Vào thời vị lai, các tỳ khưu và các tỳ khưu ni, có tâm ác xấu, không có sự tôn trọng, sẽ khuấy rối đến các vị có tâm từ ái như thế ấy.
975. ‘‘Sikkhāpentāpi therehi, bālā cīvaradhāraṇaṃ; Na suṇissanti dummedhā, pākaṭā kāmakāriyā. 975. Kẻ ngu mang y áo,. Dầu được Trưởng lão dạy, Liệt trí sẽ không nghe, Không tự chế, tham dục. 975. Ngay cả trong khi đang được các vị trưởng lão chỉ dạy về việc mặc y, những kẻ ngu dốt cũng sẽ không lắng nghe, có trí tồi, buông lung, hành động theo ý thích.
976. ‘‘Te tathā sikkhitā bālā, aññamaññaṃ agāravā;. Nādiyissantupajjhāye, khaḷuṅko viya sārathiṃ. 976. Kẻ ngu dầu dạy vậy,. Không có kính trọng nhau, Sẽ không có vâng lời, Lời dạy giáo thọ sư, Giống như ngựa bất kham, Đối với người đánh xe. 976. Những kẻ ngu dốt ấy, được học tập như vậy, không có sự kính trọng lẫn nhau, không lưu tâm đến các vị thầy tế độ, tựa như con ngựa chứng không để ý đến người đánh xe.
977. ‘‘Evaṃ anāgataddhānaṃ, paṭipatti bhavissati; Bhikkhūnaṃ bhikkhunīnañca, patte kālamhi pacchime. 977. Như vậy, thời tương lai,. Hành tung sẽ là vậy. Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ni, Khi thời tối hậu đến, Hãy ôn hòa thân ái, Hãy cung kính lẫn nhau. 977. Như vậy sẽ là sự thực hành trong thời vị lai của các tỳ khưu và các tỳ khưu ni khi thời điểm sau cùng đã đến.
978. ‘‘Purā āgacchate etaṃ, anāgataṃ mahabbhayaṃ; Subbacā hotha sakhilā, aññamaññaṃ sagāravā. 978. Đại nạn ấy chưa đến,. Trước khi đại nạn đến, Hãy ôn hòa thân ái, Hãy cung kính lẫn nhau. 978. Khi điều nguy hiểm lớn lao ấy còn chưa xảy đến, trước khi nó xảy đến các vị hãy dễ dạy, nhu thuận, có sự kính trọng lẫn nhau.
979. ‘‘Mettacittā kāruṇikā, hotha sīlesu saṃvutā; Āraddhavīriyā pahitattā, niccaṃ daḷhaparakkamā. 979. Hãy có tâm từ bi,. Khéo chế ngự trong giới, Chuyên tinh tấn nỗ lực, Thường kiên trì phấn chấn. 979. Các vị hãy có tâm từ ái, có lòng bi mẫn, hãy thu thúc ở các giới, có sự nỗ lực tinh tấn, có bản tính cương quyết, thường xuyên có sự ra sức bền bỉ.
980. ‘‘Pamādaṃ bhayato disvā, appamādañca khemato; Bhāvethaṭṭhaṅgikaṃ maggaṃ, phusantā amataṃ pada’’nti. 980. Thấy nguy hiểm phóng dật,. Không phóng dật an ổn, Hãy tu Tám Thánh đạo, Giác chứng đạo bất tử. 980. Sau khi nhìn thấy sự xao lãng là nguy hiểm, sự không xao lãng là an toàn, các vị hãy tu tập Đạo Lộ tám chi phần, trong khi đang chạm đến vị thế Bất Tử.’”
  Như vậy vị Trưởng lão nói với Tăng chúng của mình. Các bài kệ này là lời nói chánh trí của ngài. Đại đức trưởng lão Phussa đã nói những lời kệ như thế.
…  Phusso thero….    
2. Sāriputtattheragāthā (CCLIX) Sàriputta (Thera. 89) Kệ ngôn của trưởng lão Sāriputta.
  Đời của ngài và đời của Moggallàna gắn liền với nhau. Trong thời đức Phật tại thế, Sàriputta sanh tại thành Upatissa, không xa Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Rùpasàri; còn Moggallàna sanh ở thành Kolita, không xa thành Vương Xá (Ràjagaha) bao nhiêu, mẹ là Moggali. Vì cả hai là con của vị gia trưởng nên được đặt tên là Upatissa và Kolita. Cả hai đứa trẻ được nuôi dưỡng trong giàu sang và thiện xảo mọi khả năng.Trong một hội chợ lớn ở Vương Xá (Ràjagaha) vì tâm tư thuần thục, cả hai đều thấy tất cả quần chúng hội một trăm năm sau, sẽ bị thần chết mang đi, nên cả hai lo âu đi tìm con đường giải thoát. Cả hai xuất gia dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, hẹn nhau ai chứng quả bất tử trước, sẽ nói cho người kia biết.  
  Dưới sự chỉ đạo của Sanjaya, cả hai không tìm được đạo giải thoát, và sau khi tìm hỏi các Sa-môn, Bà-la-môn gặp được Assajì và nhờ Assajì, gặp được Thế Tôn, cả hai đều xin xuất gia và được đức Phật độ cho làm Tỷ-kheo với câu: ‘Thiện lai Tỷ-kheo’.  
  Chứng được quả Dự lưu nhờ Assajì tóm tắt câu kệ, Moggallàna, bảy ngày sau khi xuất gia, tại làng Kallavàla ở Magadha, sau khi nhiếp phục được hôn trầm thụy miên, nhờ lời Thế Tôn khích lệ, sau khi nghe lời dạy về tu các giới, chứng được quả A-la-hán. Còn Sàriputta, nửa tháng sau khi xuất gia khi ở cùng đức Bổn Sư tại hang Sukarakhata ở Vương Xá (Ràjagaha) cũng được chứng quả A-la-hán. Về sau, tại Jetavana Thế Tôn xác chứng Sàriputta là đệ tử đệ nhất về trí tuệ và thiền quán, và Sàriputta sau khi được tôn làm nguyên soái Chánh pháp, một hôm nói lên chánh trí của mình, trước các đệ tử:  
981. ‘‘Yathācārī yathāsato satīmā, yatasaṅkappajjhāyi appamatto; Ajjhattarato samāhitatto, eko santusito tamāhu bhikkhuṃ. 981. Ai tùy theo năng lực,. Có giới, tịnh, chánh niệm Không phóng dật hành trì, Sở hành đúng tư duy, Thích hướng nội, khéo định, Đơn độc, biết tri túc, Với sở hành như vậy, Vị ấy gọi Tỷ-kheo. 981. “Vị có hạnh kiểm như thế, có tánh tốt như thế, có niệm, có sự suy tư đã được kiềm chế, có thiền chứng, không bị xao lãng, được thỏa thích ở nội tâm, có bản thân được định tĩnh, đơn độc, tự biết đủ, người ta gọi vị ấy là tỳ khưu.
982. ‘‘Allaṃ sukkhaṃ vā bhuñjanto, na bāḷhaṃ suhito siyā; Ūnūdaro mitāhāro, sato bhikkhu paribbaje. 982. Ăn đồ ướt hay khô,. Không ăn quá thỏa mãn, Bụng trống, ăn tiết độ, Tỷ-kheo trú chánh niệm. 982. Trong khi thọ dụng đồ ăn ướt hay đồ ăn khô, không nên thỏa mãn một cách quá độ, vị tỳ khưu du hành, có bao tử thiếu thốn, có vật thực chừng mực, có niệm.
983. ‘‘Cattāro pañca ālope, abhutvā udakaṃ pive; Alaṃ phāsuvihārāya, pahitattassa bhikkhuno. 983. Ăn bốn, năm miếng xong,. Rồi hãy uống nước uống, Thật đủ trú thoải mái, Với Tỷ-kheo tinh cần. 983. Nên ngưng không ăn bốn, năm vắt cơm (sau cùng) và nên uống nước, vậy là đủ cho sự sống thoải mái của vị tỳ khưu bản tính cương quyết.
984. ‘‘Kappiyaṃ taṃ ce chādeti, cīvaraṃ idamatthikaṃ [idamatthitaṃ (sī.)]; Alaṃ phāsuvihārāya, pahitattassa bhikkhuno. 984. Nhận lấy đồ hợp pháp,. Y áo đáp nhu cầu, Thật đủ trú thoải mái, Với Tỷ-kheo tinh cần. 984. Nếu mặc lên y ấy, (là y) đã được làm cho đúng phép, thì điều này là có lợi ích, vậy là đủ cho sự sống thoải mái của vị tỳ khưu bản tính cương quyết.
985. ‘‘Pallaṅkena nisinnassa, jaṇṇuke nābhivassati; Alaṃ phāsuvihārāya, pahitattassa bhikkhuno. 985. Khi ngồi thế kiết-già,. Đầu gối phải mưa ướt, Thật đủ trú thoải mái, Với Tỷ-kheo tinh cần. 985. Đối với vị đang ngồi với thế kiết già, trời mưa còn chưa làm ướt đầu gối, vậy là đủ cho sự sống thoải mái của vị tỳ khưu bản tính cương quyết.
986. [saṃ. ni. 4.253; itivu. 53] ‘‘Yo sukhaṃ dukkhato adda, dukkhamaddakkhi sallato; Ubhayantarena [ubhayamantare (sī.)] nāhosi, kena lokasmi kiṃ siyā. 986. Ai xem lạc là khổ,. Ai xem khổ như tên, Đứng chặng giữa cả hai, Do đâu, đời nắm được? 986. Người nào đã thấy lạc là khổ, đã nhìn thấy khổ là mũi tên, đã không ở giữa cả hai (lạc và khổ), còn có điều gì (trói buộc) ở thế gian và có thể trở thành cái gì (ở tương lai)?
987. ‘‘Mā me kadāci pāpiccho, kusīto hīnavīriyo; Appassuto anādaro, kena lokasmi kiṃ siyā. 987. Không cho ta ác dục,. Biếng nhác tinh cần kém, Ít nghe, không tín kính, Do đâu, đời nắm được? 987. Mong rằng kẻ có ước muốn xấu xa, biếng nhác, có sự tinh tấn kém cỏi, ít học hỏi, không có sự tôn trọng, chớ bao giờ gần bên tôi, còn có điều gì ở thế gian (để giáo huấn) và có thể trở thành cái gì (được lợi ích)?
988. ‘‘Bahussuto ca medhāvī, sīlesu susamāhito; Cetosamathamanuyutto, api muddhani tiṭṭhatu. 988. Nghe nhiều, có hiền trí,. Khéo định tĩnh trong giới, Chuyên chú an chỉ tâm, Hãy đứng lên trên đầu. 988. Và mong rằng vị nghe nhiều, thông minh, khéo chuyên chú vào các giới, được gắn bó với sự vắng lặng của tâm, hãy đứng ngay ở đỉnh đầu.
989. ‘‘Yo papañcamanuyutto, papañcābhirato mago; Virādhayī so nibbānaṃ, yogakkhemaṃ anuttaraṃ. 989. Ai chuyên tâm hý luận,. Như thú ưa hý luận, Rơi khỏi, trật Niết-bàn, Vô thượng, thoát khổ ách. 989. Kẻ nào bị gắn bó với vọng tưởng, thỏa thích vọng tưởng giống như con thú, kẻ ấy đã lìa xa Niết Bàn, sự an toàn khỏi các ràng buộc, vô thượng.
990. ‘‘Yo ca papañcaṃ hitvāna, nippapañcapathe rato; Ārādhayī so nibbānaṃ, yogakkhemaṃ anuttaraṃ. 990. Ai từ bỏ hý luận,. Thích đạo phi hý luận, Đi đến được Niết-bàn, Vô thượng, thoát khổ ách. 990. Và vị nào, sau khi từ bỏ vọng tưởng, được thích thú ở đạo lộ không có vọng tưởng, vị ấy đã thành tựu Niết Bàn, sự an toàn khỏi các ràng buộc, vô thượng.
  Rồi vị Trưởng lão, một hôm thấy được chỗ ở của người em Revata (XLII, CCXLIV) đang ở, một khu rừng không nước đầy gai góc, ngài tán thán người em và nói:  
991. [dha. pa. 98] ‘‘Gāme vā yadi vāraññe, ninne vā yadi vā thale; Yattha arahanto viharanti, taṃ bhūmirāmaṇeyyakaṃ. 991. Tại làng hay trong rừng,. Thung lũng hay đồi cao, Chỗ nào La-hán trú, Đất ấy thật khả ái. 991. Cho dầu ở làng hoặc là ở rừng, cho dầu ở thung lũng hoặc ở cao nguyên, nơi nào các vị A-la-hán cư ngụ, vùng đất ấy thật đáng yêu.[6]
992. ‘‘Ramaṇīyāni araññāni, yattha na ramatī jano; Vītarāgā ramissanti, na te kāmagavesino. 992. Khả ái thay núi rừng,. Chỗ người phàm không ưa, Vị ly tham sẽ thích, Vì không tìm dục lạc. 992. Các khu rừng đáng yêu là nơi con người không ưa thích. Những vị có luyến ái đã được xa lìa sẽ ưa thích, các vị ấy không phải là những kẻ tầm cầu ái dục.
  Rồi vị Trưởng lão,với lòng từ mẫn đối với Ràdha một Bà-la-môn bất hạnh, giúp Ràdha xuất gia tu hành. Về sau, khi đang du hành, ngài khích lệ Ràdha, bằng lòng với cử chỉ khiêm tốn của Ràdha:  
993. [dha. pa. 76] ‘‘Nidhīnaṃva pavattāraṃ, yaṃ passe vajjadassinaṃ; Niggayhavādiṃ medhāviṃ, tādisaṃ paṇḍitaṃ bhaje; Tādisaṃ bhajamānassa, seyyo hoti na pāpiyo. 993. Như người chỉ của chôn,. Cũng vậy, người thấy lỗi, Nói điều người trí trách, Hãy gần người trí vậy. Thân cận người như vậy, Chỉ tốt hơn, không xấu. 993. Nên gặp gỡ người thông minh, nhìn thấy được lỗi lầm, có lời nói khiển trách, tựa như người chỉ ra những của cải chôn giấu. Nên giao thiệp với người thông minh như thế ấy. Người giao thiệp với vị (thông minh) như thế ấy có được điều tốt hơn, không xấu.[7]
  Một hôm, bậc Đạo Sư không đi đến để giải tán nhóm Tăng chúng của Assaji-Runabbasu được tổ chức ở đồi Kità, Sàriputta được cử đi cùng với Moggallàna và các đệ tử của mình. Khi lời khuyên của Sàriputta không được nghe theo, ngài nói như sau:  
994. [dha. pa. 77] ‘‘Ovadeyyānusāseyya, asabbhā ca nivāraye; Satañhi so piyo hoti, asataṃ hoti appiyo. 994. Cần phải khuyên, phải dạy,. Phải ngăn chặn bất thiện, Làm vậy, người thiện thương, Người bất thiện không ưa. 994. Người có thể giáo giới, có thể chỉ dạy, có thể ngăn chặn điều không tốt lành, thật vậy đối với những người tốt thì người ấy được thương mến, đối với những người không tốt thì không được yêu mến.[8]
  Khi các Tỷ-kheo nói rằng chính du sĩ Dìghanakha, được Thế Tôn giảng dạy, được sửa soạn bởi hành động quá khứ, có thể làm nhiệm vụ ấy, Sàriputta can thiệp, nói rằng không phải:  
995. ‘‘Aññassa bhagavā buddho, dhammaṃ desesi cakkhumā; Dhamme desiyamānamhi, sotamodhesimatthiko; Taṃ me amoghaṃ savanaṃ, vimuttomhi anāsavo. 995. Thế Tôn, bậc có mắt,. Thuyết pháp cho người khác, Khi pháp được thuyết giảng, Ta lắng tai nhiệt tình. 996. Ta nghe, không uổng phí,. Giải thoát không lậu hoặc, Không cần biết đời trước, Không cần được thiên nhãn. 995. Đức Phật Thế Tôn, bậc Hữu Nhãn, đã thuyết giảng Giáo Pháp đến người khác. Trong khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng, là người có mục đích, tôi đã lắng tai nghe. Việc lắng nghe ấy của tôi là không vô ích, tôi đã được giải thoát, không còn lậu hoặc.
996. ‘‘Neva pubbenivāsāya, napi dibbassa cakkhuno; Cetopariyāya iddhiyā, cutiyā upapattiyā; Sotadhātuvisuddhiyā, paṇidhī me na vijjati [kathā. 378]. 997. Ta không có phát nguyện,. Chứng được tha tâm thông, Biết chúng sanh sống chết, Hay nhĩ giới thanh tịnh. 996. Không vì đời sống trong thời quá khứ, cũng không vì Thiên nhãn, vì thần thông về việc biết được tâm (của người khác), về sự chết và sự sanh, về sự thanh tịnh của nhĩ giới, là ước nguyện không có ở tôi.
997. ‘‘Rukkhamūlaṃva nissāya, muṇḍo saṅghāṭipāruto; Paññāya uttamo thero, upatissova [upatisso ca (sī. ka.)] jhāyati. 998. Ngồi dưới một gốc cây,. Đầu trọc, đắp đại y, Trưởng lão tuệ đệ nhất, U-pa-tis tu thiền. 997. Vị trưởng lão Upatissa, tối thượng về trí tuệ, đầu cạo, trùm lên y hai lớp, đã ngồi xuống ngay tại gốc cây, tham thiền.
  Ba câu kệ tiếp được nói lên về ngài, khi Sàriputta trú ở tinh xá hang bồ câu, không có bị thương khi bị quỷ Dạ-xoa đánh:  
998. ‘‘Avitakkaṃ samāpanno, sammāsambuddhasāvako; Ariyena tuṇhībhāvena, upeto hoti tāvade. 999. Đầy đủ thiền vô tầm. Đệ tử bậc Chánh giác, Với im lặng bậc Thánh, Ngay lúc ấy, đạt được 998. Đã đạt được trạng thái vô tầm, vị đệ tử của bậc Chánh Đẳng Giác ngay tức thời đạt đến trạng thái im lặng thánh thiện.
999. [udā. 24] ‘‘Yathāpi pabbato selo, acalo suppatiṭṭhito; Evaṃ mohakkhayā bhikkhu, pabbatova na vedhati. 1000. Giống như ngọn núi đá,. Không động, khéo vững trú, Cũng vậy, vị Tỷ-kheo, Đã đoạn diệt si ám, Vị ấy như ngọn núi, Không có bị dao động. 999. Cũng giống như ngọn núi đá, không bị lay động, đã khéo được thiết lập, tương tự như vậy vị tỳ khưu, do sự cạn kiệt của si mê, không rung chuyển tựa như ngọn núi.[9]
1000‘‘Anaṅgaṇassa. posassa, niccaṃ sucigavesino; Vālaggamattaṃ pāpassa, abbhamattaṃva khāyati. 1001. Người không có uế nhiễm,. Luôn tầm cầu thanh tịnh, Ác nhẹ như đầu lông, Xem nặng như mây trời. 1000. Đối với người không có (đầu óc) nhơ bẩn, luôn tầm cầu sự tinh khiết, phần nhỏ bằng đầu cọng tóc của sự xấu xa được xem như là kích thước của đám mây.[10]
  Một hôm, bậc Trưởng lão không chú tâm, để tấm y rơi xuống. Một Sa-di nói: ‘Thưa Tôn giả y cần phải đắp xung quanh thân mình’. Tôn giả tán thán lời nói của người Sa-di và đắp lại tấm y trên thân. Và nói lên điều lỗi của mình, ngài nói bài kệ:  
1001‘‘Nābhinandāmi. maraṇaṃ, nābhinandāmi jīvitaṃ; Nikkhipissaṃ imaṃ kāyaṃ, sampajāno patissato. 1002. Ta không hoan hỷ chết,. Ta không hoan hỷ sống, Ta sẽ bỏ thân này, Tỉnh giác và chánh niệm. 1001. Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, tôi sẽ lìa bỏ thân xác này, có sự nhận biết rõ, có niệm.
  Rồi ngài nêu rõ sự xả ly của ngài đối với vấn đề sống chết.  
1002‘‘Nābhinandāmi. maraṇaṃ, nābhinandāmi jīvitaṃ; Kālañca paṭikaṅkhāmi, nibbisaṃ bhatako yathā. 1003. Ta không hoan hỷ chết,. Ta không hoan hỷ sống, Ta sẽ bỏ thân này, Như thợ làm việc xong. 1002. Tôi không vui thích sự chết, tôi không vui thích sự sống, và tôi chờ đợi thời điểm, giống như người làm thuê chờ đợi tiền công.[11]
1003‘‘Ubhayena. midaṃ maraṇameva, nāmaraṇaṃ pacchā vā pure vā; Paṭipajjatha mā vinassatha, khaṇo vo mā upaccagā. 1004. Cả hai chết, không chết,. Sau đời hay trước đời, Hãy dấn thân tiến bước, Chớ để hư, uổng phí, Dầu một khắc, sát-na, Chớ để uổng phí qua. 1003. Ở cả hai thời, sau này (lúc về già) hoặc trước đây (lúc còn trẻ), cái này chính là sự chết, không phải không chết, các vị hãy tiến bước, các vị chớ có hư hỏng, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua.
  Rồi khi thuyết pháp, ngài nói lên những bài kệ:  
1004‘‘Nagaraṃ. yathā paccantaṃ, guttaṃ santarabāhiraṃ; Evaṃ gopetha attānaṃ, khaṇo vo mā upaccagā; Khaṇātītā hi socanti, nirayamhi samappitā. 1005. Như ngôi thành biên địa,. Được bảo vệ trong ngoài, Như vậy, hộ tự ngã, Chớ để phí sát-na, Sát-na qua, sầu muộn, Chịu khổ trong địa ngục. 1004. Giống như thành trì ở biên thùy được canh phòng bên trong lẫn bên ngoài, các vị hãy gìn giữ bản thân như vậy, chớ để thời khắc của quý vị trôi qua,[12] bởi vì những kẻ đã để thời khắc trôi qua bị sầu muộn khi bị đưa vào ở địa ngục.
1005‘‘Upasanto. uparato, mantabhāṇī [mattabhāṇī (sī.)] anuddhato; Dhunāti pāpake dhamme, dumapattaṃva māluto. 1006. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,. Đọc chú, không cống cao, Quét sạch các ác pháp, Như gió quét lá cây. 1005. Vị an tịnh, tự chế, có lời nói đúng đắn, không tự kiêu, rũ bỏ các ác pháp tựa như gió làm rụng lá cây.[13]
  Rồi một hôm, thấy Tôn giả MahaKotthita, ngài nói lên ba câu kệ, tán thán khả năng tốt đẹp của MahàKotthita.  
1006‘‘Upasanto. uparato, mantabhāṇī anuddhato; Appāsi [abbahi (syā.), abhāsi (?)] pāpake dhamme, dumapattaṃva māluto. 1007. Đạt tịch tịnh, chỉ tức,. Đọc chú, không cống cao, Gạt ngoài các ác pháp, Như gió quét lá cây. 1006. Vị an tịnh, tự chế, có lời nói đúng đắn, không tự kiêu, rũ bỏ các ác pháp tựa như gió ngắt bỏ lá cây.
1007‘‘Upasanto. anāyāso, vippasanno anāvilo; Kalyāṇasīlo medhāvī, dukkhassantakaro siyā. 1008. Đạt tịch tịnh an lặng,. Ý trong sáng không nhiễm, Bậc trì giới trọn lành, Có thể dứt đau khổ. 1007. Vị an tịnh, không buồn phiền, hoàn toàn tịnh tín, không náo động, có giới tốt đẹp, thông minh, có thể thực hiện việc chấm dứt khổ đau.
1008‘‘Na. vissase ekatiyesu evaṃ, agārisu pabbajitesu cāpi; Sādhūpi hutvā na asādhu honti, asādhu hutvā puna sādhu honti. 1009. Có người không ai tin,. Tại gia hay xuất gia, Những ai trước là tốt, Về sau trở thành xấu, Hoặc trước là người xấu. Sau trở thành người tốt. 1008. Không thể tin được rằng một số người tại gia luôn cả xuất gia lại là như vầy, thậm chí đã là tốt lành rồi trở thành không tốt lành, đã là không tốt lành rồi lại trở thành tốt lành.
  Câu kệ tiếp nói về các Tỷ-kheo xứ Vajjì tin tưởng ở Devadatta và chấp nhận giáo lý của Devadatta:  
1009‘‘Kāmacchando. ca byāpādo, thinamiddhañca bhikkhuno; Uddhaccaṃ vicikicchā ca, pañcete cittakelisā. 1010. Hạng Tỷ-kheo tham dục,. Sống hôn trầm thụy miên, Trạo cử và nghi ngờ, Tâm đủ năm phiền não. 1009. Ước muốn về dục, và ác tâm, sự dã dượi buồn ngủ, sự phóng dật, và hoài nghi, đây là năm ô nhiễm ở tâm của vị tỳ khưu.
1010‘‘Yassa. sakkariyamānassa, asakkārena cūbhayaṃ; Samādhi na vikampati, appamādavihārino. 1011.Với ai, đối cả hai,. Được trọng, không được trọng, Thiền định, không dao động, An trú không phóng dật. 1010. Đối với vị nào, ở cả hai trường hợp, đang được tôn vinh và không có tôn vinh, mà có sự an trú không bị xao lãng, định của vị ấy không dao động.
1011‘‘Taṃ. jhāyinaṃ sātatikaṃ, sukhumadiṭṭhivipassakaṃ; Upādānakkhayārāmaṃ, āhu sappuriso iti. 1012. Thiền tư luôn kiên trì,. Tuệ quán, kiến tế nhị, Ưa thích chấp thủ diệt, Vị ấy gọi chân nhân. 1011. Vị tham thiền liên tục, có sự quán xét về tà kiến vi tế, có sự ưa thích về sự cạn kiệt của chấp thủ, người ta gọi vị ấy là ‘bậc thiện nhân.’
1012‘‘Mahāsamuddo. pathavī, pabbato anilopi ca; Upamāya na yujjanti, satthu varavimuttiyā. 1013. Biển lớn và đất lớn,. Núi và các phương trời, Không ví dụ sánh được, Phật, giải thoát thù thắng. 1012. Đại dương, trái đất, quả núi, và luôn cả ngọn gió, không được liên kết với sự so sánh về sự giải thoát cao quý của bậc Đạo Sư.
  Để phân biệt sự sai khác, lấy Bổn Sư và mình làm thí dụ, ngài nói lên những bài kệ như sau:  
1013‘‘Cakkānuvattako. thero, mahāñāṇī samāhito; Pathavāpaggisamāno, na rajjati na dussati. 1014. Trưởng lão chuyển pháp luân,. Bậc đại trí, thiền định, Như đất, nước và lửa, Không tham không ghét bỏ. 1013. Vị tiếp tục xoay chuyển bánh xe, bậc trưởng lão, có trí tuệ lớn lao, được định tĩnh, tương tự đất, nước, và lửa, không bị luyến ái, không bị sân hận.
1014‘‘Paññāpāramitaṃ. patto, mahābuddhi mahāmati; Ajaḷo jaḷasamāno, sadā carati nibbuto. 1015. Đạt được tuệ tối thắng,. Đại giác, đại Mâu-ni, Không chậm, tỏ chậm chạp Thường sống thật thanh lương. 1014. Đã đạt đến sự toàn hảo về tuệ, có tánh giác vĩ đại, có tư tưởng lớn lao, không đần độn giống như là đần độn, luôn sống được tịch tịnh.
1015‘‘Pariciṇṇo. mayā satthā …pe…  bhavanetti samūhatā. 1016. Ta hầu hạ Bổn Sư,. Lời Phật dạy làm xong, Gánh nặng đã đặt xuống, Gốc sanh hữu nhổ sạch. 1015. Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, lối dẫn đến hiện hữu đã được xóa sạch.[14]
  Để nêu rõ bổn phận của ngài đã làm xong, ngài nói:  
1016‘‘Sampādethappamādena,. esā me anusāsanī; Handāhaṃ parinibbissaṃ, vippamuttomhi sabbadhī’’ti. 1017. Tinh cần, chớ phóng dật,. Đây lời giáo huấn ta! Ta sẽ nhập Niết-bàn, Ta thoát mọi sanh y. 1016. Quý vị hãy nỗ lực với sự không xao lãng, điều này là lời chỉ dạy của tôi. Tốt lắm, tôi sẽ viên tịch Niết Bàn, tôi đã được giải thoát về mọi mặt.”[15]
  Và khi ngài sắp nhận Niết-bàn, ngài giảng dạy các Tỷ-kheo đang họp xung quanh ngài như sau: Đại đức trưởng lão Sāriputta đã nói những lời kệ như thế.
…  Sāriputto thero….    
3. Ānandattheragāthā (XXLX) Ananda (Thera. 91) Kệ ngôn của trưởng lão Ānanda.
  Trong thời đức Phật tại thế, ngài sanh trong gia đình Thích-ca Amitedana. Vì các bà con nói ngài sanh đem hoan hỷ cho gia đình, nên được đặt tên là Ananda (Khánh Hỷ). Khi lớn lên, các sự kiện xuất gia, giác ngộ, chuyển Pháp luân được diễn ra, và sau khi Thế Tôn viếng thăm Kapilavatthu, ngài xuất gia với Bhaddiya và các người khác và được Thế Tôn thế độ cho. Sau khi nghe bài thuyết pháp của Punna Mantàni, ngài chứng được Sơ quả.  
  Trong hai mươi năm đầu, Thế Tôn không có thị giả riêng, khi thì Nàgasamàla, khi thì Nàgita, khi thì Upavàna, Sunakkhatta, Sa-di Cunda, Sàgata, Meghiya. Thế Tôn không có lựa chọn ai làm thị giả đặc biệt. Sau Thế Tôn khi đã năm mươi sáu tuổi, gợi ý muốn có một thị giả thường trực, có Tỷ-kheo đề nghị Ananda và Ananda chỉ nhận lời nếu Thế Tôn chịu từ chối bốn việc và chấp nhận bốn việc. Từ chối không cho Ananda, y, đồ ăn, một phòng riêng và mời ăn, vì nếu không từ chối thời Ananda bị hiểu lầm là hầu hạ Thế Tôn để được y, đồ ăn khất thực, phòng xá và mời ăn. Chấp nhận cho Ananda bốn việc là nếu Ananda được mời ăn, Thế Tôn bằng lòng đi dự; Thế Tôn bằng lòng gặp những người từ xa đi đến và do Ananda giới thiệu; Thế Tôn chấp nhận cho Ananda yết kiến nếu Ananda gặp phân vân khó xử; Thế Tôn sẽ giảng lại những giáo lý ngài dạy khi Ananda vắng mặt. Nếu Thế Tôn không chấp nhận bốn điều này, thời sự hầu hạ của Ananda không đem lại thiện quả gì. Thế Tôn chấp nhận điều Ananda yêu cầu.  
  Từ hôm ấy, Ananda hầu hạ Thế Tôn, đem nước, đem tăm xỉa răng, rửa chân, đi theo Thế Tôn, quét phòng cho Thế Tôn. Ban ngày, Ananda ở một bên đức Phật, nhắc nhở những điều cần làm; ban đêm cầm đèn và gậy. Ananda đi xung quanh phòng đức Phật sẵn sàng đáp ứng nếu Thế Tôn có gọi. Thế Tôn tại Jetavana, xác chứng Ananda là vị Tỷ-kheo đệ nhất về năm phương diện: Đa văn, tâm tư cảnh giác, sức mạnh đi bộ, lòng kiên trì và sự hầu hạ chu đáo. Như vậy, Ananda sau khi Thế Tôn nhập diệt vẫn chưa chứng quả A-la-hán, và đêm trước khi kỳ kiết tập thứ nhất được tổ chức, ngài phát tâm tinh cần tinh tấn, thiền quán suốt đêm, trong mái hiên nhưng chưa có hiệu quả. Rồi ngài vào phòng ngồi trên giường, muốn nằm xuống và khi đầu chưa đụng chiếc gối, chân chưa rời khỏi đất, trong khoảng thời gian ấy, ngài chứng được quả A-la-hán. Rồi ngài bước vào phòng kiết tập.  
  Các câu kệ của ngài được góp thâu lại và để vào trong tập Trưởng lão Tăng Kệ, khi Khuddaka Nikàya (Tiểu bộ kinh) được tụng đọc.  
  Những bài kệ đầu được nói lên, khi ngài khuyên các Tỷ-kheo thường thân cận với kẻ theo Devadatta:  
1017‘‘Pisuṇena. ca kodhanena ca, maccharinā ca vibhūtanandinā; Sakhitaṃ na kareyya paṇḍito, pāpo kāpurisena saṅgamo. 1018. Hai lưỡi và phẫn nộ,. Xan tham, thích phá hoại, Bậc trí không giao du, Kẻ ác bạn kẻ xấu. 1017. “Người sáng trí không nên kết bạn với kẻ nói đâm thọc, giận dữ, bỏn xẻn, vui với sự bất hạnh (của người khác); việc giao du với kẻ xấu là tệ hại.
1018‘‘Saddhena. ca pesalena ca, paññavatā bahussutena ca; Sakhitaṃ kareyya paṇḍito, bhaddo sappurisena saṅgamo. 1019. Với bậc tin, dễ thương,. Vói bậc trí, nghe nhiều, Bậc Hiền trí, giao du, Kẻ thiện bạn chân nhân. 1018. Người sáng trí nên kết bạn với người có đức tin, khéo cư xử, có trí tuệ, và nghe nhiều; việc giao du với người tốt là may mắn.
  Các bài kệ sau được nói lên khi nữ cư sĩ Uttarà, vì nàng đẹp nên thiên về dục vọng và được nói lên để nàng thấy sự mỏng manh của thân nàng. Có người nói các bài kệ này nói lên cho những ai đắm say Ambapàli:  
1019‘‘Passa. cittakataṃ bimbaṃ …pe…  yassa natthi dhuvaṃ ṭhiti. 1020. Hãy xem bóng trang sức,. Nhóm vết thương tích tụ, Bệnh hoạn nhiều tham tưởng, Nhưng không gì trường cửu. 1019. Hãy nhìn xem bóng dáng được vẽ màu, nơi hội tụ các vết thương, được dựng lên (bằng ba trăm khúc xương), bệnh hoạn, nhiều suy tư (sái quấy), không có sự tồn tại trường cửu.[16]
1020‘‘Passa. cittakataṃ bimbaṃ …pe…  vatthehi sobhati. 1021. Hãy nhìn sắc trang sức,. Với châu báu vòng tai, Bộ xương, da bao phủ Sáng chói nhờ y phục. 1020. Hãy nhìn xem vóc dáng được vẽ màu, với ngọc ma-ni và với bông tai; là xương được bọc lại bởi da, nó rạng rỡ nhờ vải vóc.
1021‘‘Alattakakatā.  …pe…  no ca pāragavesino.   1021. Các bàn chân được sơn màu đỏ, khuôn mặt được bôi phấn bột, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
1022‘‘Aṭṭhapadakatā. …pe…  no ca pāragavesino.   1022. Các sợi tóc được làm thành tám lớp, các con mắt được bôi thuốc màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
1023‘‘Añjanīva. navā …pe…  no ca pāragavesino.   1023. Thân thể hôi thối đã được trang điểm tựa như hộp thuốc bôi đã được vẽ màu, là đủ cho sự mê muội đối với kẻ ngu, nhưng không đủ đối với người có sự tầm cầu bờ kia.
  Hai câu kệ tiếp được vị Trưởng lão nói lên khi chứng quả A-la-hán, đêm ấy trên giường của mình: 1024. Thợ săn đã đặt bẫy mồi, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ bắt thú đang than vãn.
    1025. Các bẫy mồi của gã thợ săn đã bị đứt lìa, con nai đã không đến gần cái lưới bẫy. Sau khi ăn xong mồi nhử, chúng ta hãy ra đi, trong khi kẻ săn thú sầu muộn.
1024‘‘Bahussuto. cittakathī, buddhassa paricārako; Pannabhāro visaññutto, seyyaṃ kappeti gotamo. 1022. Nghe nhiều, diễn thuyết giỏi,. Thị giả bậc Giác giả, Gánh nặng đã đặt xuống, Ràng buộc được thoát ly, Bậc họ Gotama, Đặt lưng nằm xuống nghỉ. 1026. Vị thị giả của đức Phật, nghe nhiều, có sự thuyết giảng tài ba, có gánh nặng đã được buông xuống, không bị ràng buộc, vị dòng dõi Gotama chuẩn bị việc nằm.
1025‘‘Khīṇāsavo. visaññutto, saṅgātīto sunibbuto; Dhāreti antimaṃ dehaṃ, jātimaraṇapāragū. 1023. Các lậu hoặc đoạn tận,. Ràng buộc được thoát ly, Mọi chấp trước vượt qua, Khéo đạt được thanh lương, Gánh vác thân cuối cùng, Đến bờ kia sanh tử. 1027. (Vị ấy) có lậu hoặc đã được cạn kiệt, không bị ràng buộc, đã vượt qua sự bám víu, đã khéo được tịch tịnh, đang duy trì thân mạng cuối cùng, là người đã đi đến bờ kia của sanh tử.
1026‘‘Yasmiṃ. patiṭṭhitā dhammā, buddhassādiccabandhuno; Nibbānagamane magge, soyaṃ tiṭṭhati gotamo. 1024. Pháp an trú trong ấy,. Phật bà con mặt trời, Trên đường đến Niết-bàn Gotama an trú.   1028. Vị dòng dõi Gotama ấy đấy, đứng ở Đạo Lộ dẫn đến Niết Bàn, nơi ấy các lời dạy của đức Phật, vị thân quyến của mặt trời, đã được thiết lập.
  Một hôm Moggallàna người chăn bò, hỏi ngài lời dạy của đức Phật là gì, có bao nhiêu giáo lý tất cả. Vị Trưởng lão trả lời:  
1027‘‘Dvāsīti. buddhato gaṇhiṃ, dve sahassāni bhikkhuto; Caturāsītisahassāni, ye me dhammā pavattino.  1025. Ta nhận từ đức Phật, Tám mươi hai ngàn pháp, Còn nhận từ Tỷ-kheo, Thêm hai ngàn pháp nữa, Tổng cộng tám tư ngàn, Là pháp ta chuyển vận. 1029. Tôi đã tiếp nhận tám mươi hai ngàn từ đức Phật, hai ngàn từ vị tỳ khưu, tám mươi bốn ngàn Pháp (uẩn) này là có sự vận hành.
  Một hôm, vị Trưởng lão nói cho một người sống bê tha phóng đãng sự nguy hiểm của một đời sống không giáo dục văn hóa:  
1028‘‘Appassutāyaṃ. puriso, balibaddova jīrati; Maṃsāni tassa vaḍḍhanti, paññā tassa na vaḍḍhati.  1026. Người ít nghe ít học, Lớn già như con bò, Những thịt nó lớn lên, Trí tuệ nó không lớn. 1030. Kẻ này ít học, tựa như con bò đực trở thành già cỗi, các bắp thịt của kẻ ấy tăng trưởng, trí tuệ của kẻ ấy không tăng trường.
  Những bài kệ tiếp nói cho vị Tỷ-kheo khinh khi những người ít học thua mình:  
1029‘‘Bahussuto. appassutaṃ, yo sutenātimaññati; Andho padīpadhārova, tatheva paṭibhāti maṃ. 1027. Người học nhiều khinh miệt,. Kẻ học ít về học, Như người mù mang đèn, Ta có ý là vậy. 1031. Người nào học nhiều rồi khinh chê kẻ ít học về việc học, giống như người cầm cây đèn bị mù, điều nảy sanh trong trí của tôi tương tự y như thế.
1030‘‘Bahussutaṃ. upāseyya, sutañca na vināsaye; Taṃ mūlaṃ brahmacariyassa, tasmā dhammadharo siyā. 1028. Hãy kính người nghe nhiều,. Chớ hại điều sở học, Đấy cội gốc Phạm hạnh, Do vậy, hãy trì pháp. 1032. Hãy phụng sự người học nhiều, và chớ hủy hoại việc học, việc ấy là gốc rễ của Phạm hạnh; vì thế nên là người có sự ghi nhớ về Giáo Pháp.
1031‘‘Pubbāparaññū. atthaññū, niruttipadakovido; Suggahītañca gaṇhāti, atthañcopaparikkhati. 1029. Biết câu trước câu sau,. Biết nghĩa, giỏi từ cú, Nắm giữ điều khéo nắm, Suy tìm trên nghĩa lý. 1033. Là người biết điều nào trước điều nào sau, biết về ý nghĩa, rành rẽ về ngôn ngữ và từ vựng, nắm giữ điều đã được học tốt đẹp, và quán xét về ý nghĩa.
1032‘‘Khantyā. chandikato [khantiyā chandito (?)] hoti, ussahitvā tuleti taṃ; Samaye so padahati, ajjhattaṃ susamāhito. 1030. Chính nhờ đức kham nhẫn,. Sở nguyện được tác thành, Sau khi đã tinh tấn, Vị ấy lại cân nhắc, Đúng thời, ra nỗ lực, Nội tâm khéo định tĩnh. 1034. Đã nảy sanh ước muốn nhờ vào sự nhẫn nại, sau khi đã ra sức thì cân nhắc về điều ấy, vị ấy nỗ lực đúng thời điểm, nội tâm khéo được định tĩnh.
1033‘‘Bahussutaṃ. dhammadharaṃ, sappaññaṃ buddhasāvakaṃ; Dhammaviññāṇamākaṅkhaṃ, taṃ bhajetha tathāvidhaṃ. 1031. Nghe nhiều, thọ trì pháp. Có tuệ, đệ tử Phật, Chờ đợi thức tri pháp, Nên thân cận vị ấy. 1035. Vị đệ tử của đức Phật, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có trí tuệ, đang mong mỏi sự nhận thức về Giáo Pháp; nên thân cận vị có đức tính như thế ấy.
1034‘‘Bahussuto. dhammadharo, kosārakkho mahesino; Cakkhu sabbassa lokassa, pūjanīyo bahussuto. 1032. Nghe nhiều thọ trì pháp,. Hộ tạng Đại ẩn sĩ, Cặp mắt, toàn thế giới, Hãy lễ vị nghe nhiều. 1036. Vị đại ẩn sĩ, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có sự bảo vệ kho tàng (Giáo Pháp), là con mắt của tất cả thế gian; sự nghe nhiều đáng được cúng dường.
1035‘‘Dhammārāmo. dhammarato, dhammaṃ anuvicintayaṃ; Dhammaṃ anussaraṃ bhikkhu, saddhammā na parihāyati. 1033. Ưa pháp, vui thích pháp,. Luôn suy tư Chánh pháp, Tỷ-kheo nhớ niệm pháp, Diệu pháp không tổn giảm. 1037. Có sự ưa thích Giáo Pháp, được thích thú Giáo Pháp, trong khi suy tư về Giáo Pháp, trong khi suy niệm về Giáo Pháp, vị tỳ khưu không rời bỏ Chánh Pháp.
  Một hôm, ngài đốc thúc vị Tỷ-kheo dao động, biếng nhác như sau:  
1036‘‘Kāyamaccheragaruno. [garuko (sī.)], hiyyamāne [hiyyamāno (sī.)] anuṭṭhahe; Sarīrasukhagiddhassa, kuto samaṇaphāsutā.  1034. Thân ích kỷ nặng chăng, Không có ưa hoạt động, Thời gian mòn mỏi qua, Không thể đứng dậy sao? Tham đắm theo thân lạc, Từ đâu, Sa-môn lạc? 1038. Đối với kẻ có sự chú trọng ở việc ích kỷ về thân xác, trong khi đang bị tiêu hoại (dần), không thể tự sách tấn, đối với kẻ bị tham đắm trong sự khoái lạc của cơ thể, tính chất thoải mái của Sa-môn từ đâu mà có?
  Những câu kệ sau, Trưởng lão Ananda đọc lên khi nghe tin Sàriputta mệnh chung:  
1037‘‘Na. pakkhanti disā sabbā, dhammā na paṭibhanti maṃ; Gate kalyāṇamittamhi, andhakāraṃva khāyati. 1035. Mọi phương đều mờ mịt,. Pháp không khỏi nơi ta, Người bạn tốt đã đi, Tối tăm lan tràn khắp. 1039. Mọi phương hướng không hiện rõ, các Giáo Pháp không hiển hiện cho tôi, khi người bạn tốt lành đã ra đi, như thể bóng tối xuất hiện.
1038‘‘Abbhatītasahāyassa,. atītagatasatthuno; Natthi etādisaṃ mittaṃ, yathā kāyagatā sati. 1036. Người bạn đã đi qua,. Đạo Sư đã đi qua, Bạn như vậy không còn, Như quán thân hành niệm. 1040. Đối với vị có bạn hữu đã đi xa, đối với vị có bậc Đạo Sư đã qua rồi, đã ra đi, không có người bạn nào giống như thế ấy, giống như niệm đặt ở thân.
1039‘‘Ye. purāṇā atītā te, navehi na sameti me; Svajja ekova jhāyāmi, vassupetova pakkhimā. 1037. Các vị xưa đã qua,. Vị mới ta không hạp, Nay một mình ta thiền, Như chim, khi mưa đến. 1041. Những vị xưa kia đã qua rồi, tâm tôi không hợp với những vị mới. Hôm nay, tôi đây chỉ một mình, tham thiền, tựa như con chim đi về nơi trú ẩn.
  Câu kệ tiếp là của bậc Đạo Sư. Câu tiếp là của Ananda, hoan hỷ làm theo lời vị Đạo Sư:  
1040‘‘Dassanāya. abhikkante, nānāverajjake bahū; Mā vārayittha sotāro, passantu samayo mamaṃ. 1038. Từ các địa phương khác,. Nhiều người yết kiến Ta, Chớ ngăn họ nghe pháp, Nay thời họ gặp Ta. 1042. ‘Chớ ngăn cản nhiều người từ các xứ sở khác nhau đang đi đến để yết kiến, giờ là thời điểm, hãy để cho những người lắng nghe gặp Ta.’
1041‘‘Dassanāya. abhikkante, nānāverajjake puthu;. Karoti satthā okāsaṃ, na nivāreti cakkhumā. 1039. Từ các địa phương khác,. Quần chúng đến yết kiến, Bổn Sư cho họ dịp, Để được yết kiến Ngài; Bậc có mắt không có,. Từ chối ngăn chận ai.   1043. Đấng Đạo Sư, bậc Hữu Nhãn, cho cơ hội đến những người từ các xứ sở khác nhau đang đi đến để yết kiến, không ngăn cản.
  Năm câu kệ tiếp nêu rõ ngài là bậc thị giả đệ nhất:  
1042‘‘Paṇṇavīsativassāni,. sekhabhūtassa me sato; Na kāmasaññā uppajji, passa dhammasudhammataṃ. 1040. Trải hai mươi lăm năm. Ta chỉ là hữu học, Dục tưởng không khởi lên, Hãy xem pháp, pháp tánh. 1044. Hai mươi lăm năm, suy tưởng về ái dục đã không khởi lên ở tôi khi đang còn ở bản thể Hữu Học, hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp.
1043‘‘Paṇṇavīsativassāni,. sekhabhūtassa me sato;. Na dosasaññā uppajji, passa dhammasudhammataṃ. 1041. Trải hai mươi lăm năm,. Ta chỉ là hữu học, Sân tưởng không khởi lên, Hãy xem pháp, pháp tánh. 1045. Hai mươi lăm năm, suy tưởng về sân hận đã không khởi lên ở tôi khi đang còn ở bản thể Hữu Học; hãy nhìn xem bản chất tốt đẹp của Giáo Pháp.
1044‘‘Paṇṇavīsativassāni,. bhagavantaṃ upaṭṭhahiṃ; Mettena kāyakammena, chāyāva anapāyinī [anupāyinī (syā. ka.)]. 1042. Trải hai mươi lăm năm,. Ta hầu hạ Thế Tôn, Với thân nghiệp từ hòa, Như bóng không rời hình. 1046. Hai mươi lăm năm, tôi đã hầu cận đức Thế Tôn với tâm từ qua thân nghiệp, như chiếc bóng không có sự xa lìa.
1045‘‘Paṇṇavīsativassāni,. bhagavantaṃ upaṭṭhahiṃ; Mettena vacīkammena, chāyāva anapāyinī. 1043. Trải hai mươi lăm năm. Ta hầu hạ Thế Tôn, Với khẩu nghiệp từ hòa, Như bóng không rời hình. 1047. Hai mươi lăm năm, tôi đã hầu cận đức Thế Tôn với tâm từ qua khẩu nghiệp, như chiếc bóng không có sự xa lìa.
1046‘‘Paṇṇavīsativassāni,. bhagavantaṃ upaṭṭhahiṃ; Mettena manokammena, chāyāva anapāyinī. 1044. Trải hai mươi lăm năm,. Ta hầu hạ Thế Tôn, Với ý nghiệp từ hòa, Như bóng không rời hình. 1048. Hai mươi lăm năm, tôi đã hầu cận đức Thế Tôn với tâm từ qua ý nghiệp, như chiếc bóng không có sự xa lìa.
1047‘‘Buddhassa. caṅkamantassa, piṭṭhito anucaṅkamiṃ; Dhamme desiyamānamhi, ñāṇaṃ me udapajjatha. 1045. Khi đức Phật kinh hành,. Ta đi theo sau lưng, Khi pháp được thuyết giảng, Trí khởi lên nơi ta. 1049. Khi đức Phật đang đi kinh hành, tôi đã đi theo ở phía sau. Khi Giáo Pháp đang được thuyết giảng, trí đã khởi lên ở tôi.
1048‘‘Ahaṃ. sakaraṇīyomhi, sekho appattamānaso; Satthu ca parinibbānaṃ, yo amhaṃ anukampako. 1046. Ta vẫn còn là người,. Có việc cần phải làm, Ta chỉ là hữu học, Tâm ý chưa chứng đạt, Đạo Sư nhập Niết-bàn,. Ai sẽ từ mẫn ta.  1050. Tôi là bậc Hữu Học, còn có việc cần phải làm, tâm ý chưa được đạt đến, và bậc Đạo Sư, người có lòng thương tưởng đến tôi, viên tịch Niết Bàn.
1049‘‘Tadāsi. yaṃ bhiṃsanakaṃ, tadāsi lomahaṃsanaṃ; Sabbākāravarūpete, sambuddhe parinibbute. 1047. Như vậy thật khủng khiếp Như vậy thật kinh hoàng, Khi bậc toàn tuyệt hảo,. Bậc Giác ngộ Niết-bàn.   1051. Khi bậc Toàn Giác, được hội đủ mọi biểu hiện cao quý, viên tịch Niết Bàn, khi ấy đã có sự kinh sợ, khi ấy đã có sự nổi da gà.
  Ba câu kệ tiếp, do các vị dự kỳ kiết tập thêm vào để tán thán Trưởng lão Ananda:  
1050‘‘Bahussuto. dhammadharo, kosārakkho mahesino; Cakkhu sabbassa lokassa, ānando parinibbuto. 1048. Nghe nhiều, thọ trì pháp,. Hộ tạng Đại ẩn sĩ, Cặp mắt toàn thế giới, Anan nhập Niết-bàn. 1052. Vị Ānanda, bậc đại ẩn sĩ, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, con mắt của tất cả thế gian, viên tịch Niết Bàn.
1051‘‘Bahussuto. dhammadharo, kosārakkho mahesino; Cakkhu sabbassa lokassa, andhakāre tamonudo. 1049. Nghe nhiều, thọ trì pháp,. Hộ tạng Đại ẩn sĩ, Cặp mắt toàn thế giới Đoạn ám chỗ tối tăm. 1053. Vị đại ẩn sĩ, có sự nghe nhiều, có sự ghi nhớ về Giáo Pháp, có sự bảo vệ kho tàng (Giáo Pháp), con mắt của tất cả thế gian, có sự xua tan tăm tối ở bóng đêm.
1052‘‘Gatimanto. satimanto, dhitimanto ca yo isi; Saddhammadhārako thero, ānando ratanākaro. 1050. Ngài là bậc ẩn sĩ,. Với hành vị tuyệt hảo, Với chánh niệm tuyệt hảo, Với kiên trì tuyệt hảo, Thọ trì chân diệu pháp,. Là Trưởng lão A-nan, Là kho tàng sống động, Đầy châu báu ngọc ngà. 1054. Vị ẩn sĩ có sự uy nghi, có niệm, có sự quả quyết, người ghi nhớ về Chánh Pháp, là trưởng lão Ānanda có hầm mỏ châu báu.  
  Câu kệ này được Ananda nói lên khi nằm trên giường, trong giờ phút cuối cùng:  
1053‘‘Pariciṇṇo. mayā satthā, kataṃ buddhassa sāsanaṃ; Ohito garuko bhāro, natthi dāni punabbhavo’’ti.  1051. Ta hầu hạ Bổn Sư, Lời Phật dạy làm xong, Gánh nặng đã đặt xuống, Gốc sanh hữu nhổ sạch. 1055. Bậc Đạo Sư đã được tôi hầu hạ, lời dạy của đức Phật đã được thực hành, vật mang nặng đã được đặt xuống, giờ đây không còn tái sanh nữa.”
…  Ānando thero…. Tiṃsanipāto niṭṭhito.   Đại đức trưởng lão Ānanda đã nói những lời kệ như thế.
Tatruddānaṃ –   TÓM LƯỢC NHÓM NÀY
Phussopatisso ānando, tayotime pakittitā;   “Vị Phussa, vị Upatissa, vị Ānanda, là ba vị đã được thuật lại ở nhóm Ba Mươi, các câu kệ đã được tạo ra ở tại nơi ấy là một trăm lẻ năm.”
Gāthāyo tattha saṅkhātā, sataṃ pañca ca uttarīti;   Nhóm Ba Mươi được chấm dứt.