✥✥✥✥✥✥

✥✥✥✥✥✥

᚜DN34᚛ KINH THẬP THƯỢNG

 

MỘT PHÁP

MỘT PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: bất phóng dật đối với các thiện pháp.
MỘT PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Niệm thân câu hữu với khả ý.
MỘT PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Xúc hữu lậu hữu thủ.
MỘT PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ: Ngã mạn.
MỘT PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠI: Bất chánh tác ý.
MỘT PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: chân chánh tác ý.
MỘT PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Vô gián tâm định.
MỘT PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Bất động trí.
MỘT PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Tất cả loài hữa tình do ăn uống mà an trú.
MỘT PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG: Bất động tâm giải thoát.

HAI PHÁP

HAI PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: Niệm và tỉnh giác.
HAI PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Chỉ và quán.
HAI PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Danh và sắc.
HAI PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ: Vô minh và hữu ái.
HAI PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠI: Ác ngôn và ác hữu.
HAI PHÁP hướng đến thù thắng: Thiện ngôn và thiện hữu.
HAI PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: nhân và duyên làm ác nhiễm các loài hữu tình. Nhân và duyên làm thanh tịnh các loài hữu tình.
HAI PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Tận trí và vô sanh trí.
HAI PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Hai giới: hữu vi giới và vô vi giới.
HAI PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG: Minh và giải thoát.

BA PHÁP

BA PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: Giao thiệp với thiện nhân, nghe diệu pháp, hành trì pháp và tùy pháp.
BA PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Ba định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định, vô tầm vô tứ định.
BA PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Ba thọ: Lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ.
BA PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ: Ba ái: Dục ái, hữu ái, phi hữu ái.
BA PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠII: ba bất thiện căn: tham bất thiện căn, sân bất thiện căn, si thiện căn.
BA PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Ba thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si thiện căn.
BA PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Ba xuất yếu giới: Xuất ly khỏi các dục vọng, tức là ly dục. xuất ly khỏi các sắc pháp, tức là vô sắc. phàm pháp gì hiện hữu, hữu vi, do duyên khởi, sự xuất ly khỏi pháp ấy tức là diệt.
BA PHÁP cần phải sanh khởi: Ba trí: Trí đối với quá khứ, trí đối với tương lai, trí đối với hiện tại.
BA PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Ba giới: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
BA PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG: Ba minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh diệt trí minh, chư Lậu tận trí minh.

BỐN PHÁP

BỐN PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: Bốn bánh xe: Trú ở trung quốc, thân cận thắng nhân, chánh nguyện tự thân, tạo phước trong quá khứ.
BỐN PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Bốn niệm xứ. ở đây vị, Tỳ kheo quán thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, để diệt trừ tham sân ở đời. quán thọ trên các cảm thọ… quán tâm trên các tâm… quán pháp trên các pháp..
BỐN PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Bốn thực: Đoàn thực loại cứng hay loại mềm, xúc thực là thứ hai, tư niệm thực là thứ ba, thức thực là thứ tư.
BỐN PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ: Bốn bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu, vô minh bộ lưu.
BỐN PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠII: Bốn ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.
BỐN PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Bốn ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh ách.
BỐN PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Bốn định: Xả phần định, chỉ phần định, thắng phần định, quyết trạch phần định.
BỐN PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Bốn trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí.
BỐN PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Bốn Thánh đế: Khổ thánh đế, Khổ tập thánh đế, Khổ diệt thánh đế, Khổ diệt đạo thánh đế.
BỐN PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG: Bốn Sa-môn quả: Dự lưu quả, Nhất lai quả, Bất lai quả, Arahan quả.

NĂM PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG

➻ Năm cần chi. Vị Tỳ Khưu có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai – Đây là Thế tôn, bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.
➻ Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não, sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng quá, trung bình hợp với sự tinh tấn.
➻ Vị ấy không lường đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chân đối với bậc Đạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị đồng phạm hạnh.
➻ Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì, nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp.
➻ Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa đến sự đoạn diệt chân chánh các khổ đau.
NĂM PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Năm căn: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn.

NĂM PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Năm giới hướng đến giải thoát.


➻ Vị Tỳ Khưu, có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục, tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên, các dục lạc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với các dục vọng.
➻ Vị Tỳ Khưu có tác ý đối với sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sân hận.
➻ Vị Tỳ Khưu, có tác ý đối với hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với hại tâm.
➻ Vị Tỳ Khưu, có tác ý đối với sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với sắc.
➻ Vị Tỳ Khưu có tác ý đối với tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt, tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân diệt. Và các lậu hoặc, các tôn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối với tự thân. 

NĂM PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Năm chánh định trí:


➻ Đây là định đưa đến hiện tại lạc và lạc quả tương lai, tự mình khởi trí như vậy.
➻ Định này thuộc bậc Thánh, xuất thế, tự mình khởi trí như vậy.
➻ Định này thuộc hàng hiền thiện thực hành, tự mình khởi trí như vậy.
➻ Định này là thanh lương, thù thắng, hướng đến an tịnh, quy về nhất tâm, không cần nhắc bảo, không bị chống đối, không bị thất bại, tự mình khởi trí như vậy.
➻ Tôi với chánh niệm nhập định này, và với chánh niệm xuất định này, tự mình khởi trí như vậy.

NĂM PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Năm giải thoát xứ.


➻ Vị Tỳ Khưu, khi nghe bậc Đạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh.
➻ Vị Tỳ Khưu không nghe bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp. Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác…
➻ Vị Tỳ Khưu, không được nghe bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng…
➻ Vị Tỳ Khưu, không nghe bậc Đạo sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấp…
➻ Vị Tỳ Khưu, không nghe bậc Đạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp, cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy tư, quán sát pháp ấy, vị Tỳ Khưu đã khéo nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập nhờ trí tuệ…

NĂM PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG: NĂM PHÁP uẩn: Giới uẩn, định uẩn, tuệ uẩn, giải thoát uẩn, giải thoát tri kiến uẩn.

SÁU PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: Sáu hòa kính pháp.


➻ Khi vị Tỳ Khưu thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
➻ Khi vị Tỳ Khưu thành tựu từ khẩu nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh…
➻ Khi vị Tỳ Khưu thành tựu từ ý nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm hạnh…
➻ Vị Tỳ Khưu, đối với các đồ vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các vị Tỳ Khưu có giới hạnh…
➻ Vị Tỳ Khưu, khi những giới luật của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng đến thiền định, vị Tỳ Khưu ấy giữ giới hạnh Sa môn như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng phạm hạnh như vậy …
➻ Vị Tỳ Khưu sống đời sống được Chánh kiến hướng dẫn, chân chánh, đoạn diệt khổ đau, vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng,…

SÁU PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Sáu tùy niệm xứ: Phật tùy niệm, Pháp tùy niệm, Tăng tùy niệm, Giời tùy niệm, Thí tùy niệm, Thiên tùy niệm.
SÁU PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Sáu nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ, ý xứ.
SÁU PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ: Sáu ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái.
SÁU PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠI: Sáu bất cung kính pháp. Vị Tỳ Khưu sống không cung kính, chống đối bậc Đạo Sư, chống đối với Pháp… chống đối với Tăng… chống đối với học pháp… chống đối với bất phóng dật… Sống không cung kính, chống đối sự tiếp đón niềm nở.
SÁU PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Sáu cung kính pháp. Vị Tỳ Khưu cung kính, không chống đối bậc Đạo sư… không chống đối với Pháp… không chống đối với Tăng… không chống đối với học pháp… không chống đối với bất phóng dật… cung kính, không chống đối sự tiếp đón niềm nở.

SÁU PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Sáu xuất ly giới.


➻ Vị Tỳ Khưu nói như sau: Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta. Vị ấy cần phải được nói như sau: Chớ có như vậy, Đại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như vậy. sự kiện không phải như vậy, trường hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trú, sự kiện không thể xảy ra như vậy. từ tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.
➻ … bi tâm giải thoát có khả năng giải thoát hại tâm.
➻ … hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất lạc tâm.
➻ … xả tâm giải thoát, có khả năng giải thoát tham tâm.
➻ Vị Tỳ Khưu nói như sau: Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng… vô tướng tâm giải thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.
➻ Vị Tỳ Khưu nói như sau: Quan điểm Tôi có mặt bị tôi từ khước. Quan điểm Tôi là cái này không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi. … Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo mạn Tôi có mặt, mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải thoát.

SÁU PHÁP CẦN PHẢI SANH KHỞI: Sáu hằng trú pháp. Vị Tỳ Khưu mắt thấy sắc không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm tinh giác. tai nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi niếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
SÁU PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Sáu vô thượng chi: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc vô thượng, giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm vô thượng.

SÁU PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG: Sáu thắng trí.


➻ Vị Tỳ Khưu chứng được thần túc sai biệt…… với thân có thể đến Phạm thiên giới.
➻ với thiên nhĩ thanh tịnh vượt khỏi loài người, nghe được hai loại tiếng, chư Thiên và loài người, xa và gần.
➻ với tâm của mình có thể biết tâm của các loài hữu tình khác, của các loài người khác, như tâm có tham … tâm không giải thoát, biết tâm không giải thoát. nhớ đến rất nhiều các đời trước, như một đời, hai đời…
➻… nhớ đến các đời trước với các chi tiết và các hình thức. với thiên nhãn thanh tịnh vượt quá loài người…
➻… biết được cái loài hữu tình tùy theo nghiệp của mình.
➻ với sự diệt trừ các lậu hoặc. sau khi tự tri, tự chứng ngay trong đời hiện tại. đạt đến và an trú vô lậu Tâm giải thoát, Tuệ giải thoát.

BẢY PHÁP, CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: Bảy tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quí tài, văn tài, thí tài, tuệ tài.
BẢY PHÁP CẦN PHẢI TU TẬP: Bảy giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Định Giác chi, Xả Giác chi.

BẢY PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Bảy thức trú.


➻ có các loại hữu tình, thân sai biệt và tưởng sai biệt, như loài người, một số chư Thiên và một số thuộc đọa xứ.
➻ có những loài hữu tình thân sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền).
➻ có những loại hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư Quang Âm thiên.
➻ có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên.
➻ có những loại hữu tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không vô biên xứ: Hư không là vô biên.
➻ có những loại hữu tình, vượt khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên xứ: Thức là vô biên.
➻ Này các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: Không có vật gì cả.

BẢY PHÁP CẦN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ: Bảy tùy miên: Tham dục tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên, nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy miên.
BẢY PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠI: Bảy phi diệu pháp. ở đây, có vị Tỳ Khưu bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đãi, thất niệm, ác tuệ.
BẢY PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Bảy diệu pháp. ở đây, có vị Tỳ Khưu có lòng tin, có tàm, có quý, đa văn, tinh cần, niệm hiện tiền, có trí tuệ.
BẢY PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Bảy thượng nhân pháp. Vị Tỳ Khưu tri pháp, tri nghĩa, tri ngã, tri lượng, tri thời, tri chúng và tri nhân.
BẢY PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Bảy tướng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưởng, quá hoạn tưởng, đoạn trừ tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng.

BẢY PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Bảy thù diệu sự.


➻ Vị Tỳ Khưu tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp trong tương lai.
➻ tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp trong tương lai.
➻ tha thiết điều phục các dục vọng và khát vọng điều phục các dục vọng trong tương lai.
➻ tha thiết sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai.
➻ tha thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương lai.
➻ tha thiết quán sát tự niệm và khát vọng quán sát tự niệm trong tương lai.
➻ tha thiết với kiến giải và khát vọng hiểu biết sở kiến trong tương lai.

BẢY PHÁP CẦN ĐƯỢC TÁC CHỨNG: Bảy lậu tận lực.


➻ Vị lậu tận Tỳ Khưu, chánh quán như chân tánh vô thường của tất cả pháp hữu vi với chánh tuệ. chánh quán ấy là sức mạnh của vị Lậu tận Tỳ Khưu ấy. Nhờ sức mạnh ấy, vị Lậu tận Tỳ Khưu biết được sự diệt tận các lậu hoặc: Các lậu hoặc của Ta đã được diệt tận.
➻ Vị Lậu tận Tỳ Khưu, chánh quán như chân với chánh tuệ các dục vọng như lửa than hừng…
➻ Vị Lậu tận Tỳ Khưu tâm hướng xuất ly, tâm thiên xuất ly, tâm nặng về xuất ly, tâm lấy xuất ly làm mục đích, tâm hoan hỷ ly dục, đoạn trừ hoàn toàn mọi lậu hoặc trú…
➻ đối với vị Lậu tận Tỳ Khưu, bốn niệm an trú được tu tập, khéo tu tập…
➻ đối với vị Lậu tận Tỳ Khưu, năm căn được tu tập, khéo tu tập…
➻ đối với vị Lậu tận Tỳ Khưu, Bảy Giác chi đã được tu tập, khéo tu tập…
➻ đối với vị Lậu tận Tỳ Khưu, Bát Thánh đạo đã được tu tập, khéo tu tập…

TÁM PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG:


Có tám nhân, tám duyên đưa đến chứng đắc trí tuệ căn bản phạm hạnh nếu chưa chứng được. Đưa đến bội tăng, quảng đại, phát triển, viên mãn nếu đã chứng được.
➻ ở đây, ai sống gần bậc Đạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú.
➻ Ai sống gần bậc Đạo Sư, hoặc một vị đồng Phạm hạnh đáng tôn kính, nhờ vậy mà tàm quý được sắc sảo, ái lạc và cung kính được an trú. Người này thỉnh thoảng đến các vị ấy và đặt những câu hỏi: Này Tôn giả, vấn đề này là thế nào? Vấn đề này nghĩa như thế nào? Và các vị này đối với người ấy, nêu rõ những gì bị che khuất, phơi bày ra những gì bị giấu kín, và diệt trừ mọi nghi ngờ đối với những vấn đề đang còn nghi ngờ…
➻ Sau khi đã nghe pháp, vị này được hai sự an tịnh, an tịnh về thân và an tịnh về tâm…
➻ Vị Tỳ Khưu giữ giới, sống chế ngự với sự chế ngự giới bổn Patimokka, đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong các học pháp…
➻ Vị Tỳ Khưu đa văn, ghi nhớ điều đã nghe, chất chứa điều đã nghe. Với các pháp sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa văn đầy đủ, đề cao Phạm hạnh hoàn toàn viên mãn thanh tịnh. Những pháp ấy, vị ấy nghe nhiều, gìn giữ, ghi nhớ, nhờ lặp đi lặp lại, tâm ý suy tư, khéo thành đạt chánh trí…
➻ Vị Tỳ Khưu sống tinh cần, tinh tấn, đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, vững chắc, kiên trì đối với các thiện pháp…
➻ Vị Tỳ Khưu có chánh niệm, có chánh niệm tối thượng và phân tích rõ ràng ghi nhận, nhớ rõ điều làm đã lâu ngày, nói đã lâu ngày..
➻ Vị Tỳ Khưu sống quán sát sự sanh diệt của năm thủ uẩn: Đây là sắc, đây là tập của sắc, đây là diệt của sắc. Đây là thọ… Đây là tưởng… Đây là hành… Đây là thức. Đây là tập của thức, đây là diệt của thức…

TÁM PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Bát Thánh đạo: Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
TÁM PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Tám thế pháp: Đắc và không đắc, không có thanh danh và có thanh danh, chê và khen, lạc và khổ.
TÁM PHÁP CẦN ĐƯỢC ĐOẠN TRỪ: Tám tà: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà miệm, tà định.

TÁM PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠi: Tám giải đãi sự.


➻ ở đây có việc vị Tỳ Khưu phải làm. Vị này nghĩ: Có công việc Ta sẽ phải làm. Nếu Ta làm việc, thời thân Ta sẽ mệt mỏi. Vậy Ta nên nằm xuống. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được.
➻ một việc đã được vị Tỳ Khưu làm. Vị này nghĩ: Ta đã làm một công việc. Do Ta làm một công việc nên thân Ta mệt mỏi, Vậy Ta nên nằm xuống….
➻ có con đường vị Tỳ Khưu phải đi. Vị này nghĩ: Khi Ta đi con đường ấy, thân Ta sẽ mệt mỏi, Vậy Ta nên nằm xuống….
➻ con đường vị Tỳ Khưu đã đi. Vị này nghĩ: Ta đã đi con đường, do Ta đã đi con đường nên thân Ta mệt mỏi, Vậy Ta nên nằm xuống….
➻ vị Tỳ Khưu đi khất thực ở làng hay tại đô thị không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: Ta đi khất thực ở làng hay đô thị, không nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Thân này của Ta bị mệt mỏi không lợi ích gì, Vậy Ta nên nằm xuống….
➻ Vị Tỳ Khưu, trong khi đi khất thực tại làng hay thị xã nhận được các đồ ăn loại cứng hay đố ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị ấy nghĩ: Ta đi khất thức tại làng hay tại thị xã, nhận được các đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân này của Ta nặng nề, không làm được gì, như một nhóm đậu, Vậy Ta nên nằm xuống….
➻ Vị Tỳ Khưu bị đau bệnh nhẹ. Vị này nghĩ: Nay Ta bị đau bệnh nhẹ, cần phải nằm nghỉ. Vậy Ta nên nằm xuống. Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn, Vậy Ta nên nằm xuống….
➻ Vị Tỳ Khưu mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Thân này của Ta yếu đuối, không làm được việc gì, vậy Ta hãy nằm xuống…

TÁM PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Tám tinh tấn sự.


➻ ở đây có việc vị Tỳ Khưu phải làm, vị ấy nghĩ: Có công việc, Ta sẽ phải làm, nếu Ta làm việc, thì không dễ gì Ta có thể suy tư đến giáo pháp chư Phật. Vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được. Và vị ấy tinh tấn để đạt được điều gì chưa đạt được, để thành tựu điều gì chưa thành tựu được, để chứng ngộ điều gì chưa chứng ngộ được.
➻ Vị Tỳ Khưu đã làm xong công việc, vị ấy nghĩ: Ta đã làm xong công việc. Khi Ta làm công việc, Ta không thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy Ta phải cố gắng tinh tấn…
➻ có con đường vị Tỳ Khưu phải đi. Vị này nghĩ: Đây là con đường mà Ta có thể sẽ phải đi. Khi Ta đi con đường ấy, không dễ gì Ta có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy Ta hãy cố gắng tinh…
➻ Vị Tỳ Khưu đã đi con đường. Vị này nghĩ: Ta đã đi con đường ấy. Khi Ta đi con đường, Ta không có thể suy tư đến giáo pháp của chư Phật. Vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…
➻ Vị Tỳ Khưu trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị, không nhận được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Thân Ta như vậy nhẹ nhàng có thể làm việc. Vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…
➻ Vị Tỳ Khưu trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay loại đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Vị này nghĩ: Ta trong khi đi khất thực tại làng hay tại đô thị được các loại đồ ăn loại cứng hay đồ ăn loại mềm, đầy đủ như ý muốn. Như vậy thân Ta mạnh, có thể làm việc, vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…
➻ Vị Tỳ Khưu bị đau bệnh nhẹ. Vị ấy nghĩ: Ta nay bị đau bệnh nhẹ, sự kiện này có thể xảy ra, bệnh này có thể trầm trọng hơn. Vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…
➻ Vị Tỳ Khưu mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Vị ấy nghĩ: Ta mới đau bệnh dậy, mới khỏi bệnh không bao lâu. Sự kiện này có thể xảy ra, bệnh của Ta có thể trở lại. Vậy Ta hãy cố gắng tinh tấn…

TÁM PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Phạm hạnh trú, tám bất thời bất tiết.


➻ có Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A la hán, Chánh Đẳng Giác, Pháp được thuyết giảng, đưa đến an tịnh, hướng đến Niết bàn, tiến tới giác ngộ, được Thiện Thệ khai thị. Và người ấy sanh vào địa ngục.
➻ … Và người ấy sanh vào bàng sanh.
➻ … sanh vào ngạ quỷ…
➻ …sanh vào hàng chư Thiên được thọ mạng lâu dài…
➻ …sanh vào các biên địa, giữa các loài mọi rợ vô trí, những chỗ mà các hàng Tỳ Khưu, Tỳ Khưu ni, Nam cư sĩ, Nữ cư sĩ không có đất đứng.
➻ …Và người ấy được sanh vào các trung quốc, nhưng lại theo tà kiến điên đảo: Không có bố thí, không có cúng dường, không có cúng tế, không có quả báo các hành vi thiện ác, không có đời này, không có đời sau, không có các loài hóa sanh, không có các vị Sa môn, Bà-la-môn đã chứng đạt chân chánh, đã thực thành chân chánh, đã tự mình chứng tri, chứng ngộ thế giới này với thế giới sau và tuyên thuyết.
➻ … Và người ấy sinh vào tại các nước trung quốc, nhưng ác tuệ, ngu si, điếc, ngọng, không biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói.
➻ .. và người ấy sanh vào tại các nước trung quốc nhưng có trí tuệ, không ngu si, không điếc ngọng, biết nghĩa lý được khéo nói hay vụng nói.

TÁM PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Tám Đại nhân tầm:


➻ Pháp này cho người thiểu dục, pháp này không phải cho người đa dục.
➻ pháp này cho người tri túc, pháp này không phải cho người không tri túc.
➻ pháp này cho người an tịnh độc cư, pháp này không phải cho người ưa tụ hội.
➻ pháp này cho người siêng năng tinh tấn, pháp này không phải cho người giải đãi.
➻ pháp này cho người có niệm hiện tiền, pháp này không phải cho người thất niệm.
➻ pháp này là cho người có định tâm, pháp này không phải cho người không có định tâm.
➻ pháp này cho người có trí tuệ, pháp này không phải cho người có ác tuệ.
➻ pháp này cho người không ưa thích lý luận, pháp này không phải cho người ưa thích lý luận. 

TÁM PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Tám thắng xứ.


➻ Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.
➻ Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.
➻ Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.
➻ Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.
➻ Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh – như bông gai màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh – như lụa Ba la nại, cả hai mặt láng trơn, màu xanh, sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.
➻ Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng – như bông kanikàra màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng – như lụa Ba-la-nại cả hai mặt láng trơn màu vàng, sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng. vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.
➻ Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ – như bông bandhuJivaka màu đỏ – như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. vị ấy nhận thức rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.
➻ Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm thấy các loại ngoại sắc màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng – như sao mai osadhi màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, như lụa Ba la nại cả hai mặt láng trơn màu trắng, sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng. vị ấy nhận thứ rằng: Sau khi nhiếp thắng chúng, Ta biết, Ta thấy.

TÁM PHÁP CẦN ĐƯỢC CHỨNG NGỘ: Tám giải thoát.


➻ Tự mình có sắc, thấy các sắc. đó là giải thoát thứ nhất.
➻ Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc.
➻ Quán tưởng sắc là tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy.
➻ Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không suy tư đến những tưởng khác biệt, với suy tư Hư không là vô biên chứng và trú Không vô biên xứ.
➻ Vượt khỏi hoàn toàn Hư không vô biên xứ, với suy tư Thức là vô biên chứng và trú Thức vô biên xứ.
➻ Vượt khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư Không có vật gì chứng và trú Vô sở hữu xứ.
➻ Vượt khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
➻ Vượt khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú Diệt thọ tưởng.

CHÍN PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: chín pháp tư duy về căn pháp.


➻ Do chánh tư duy, hân hoan sinh.
➻ do hân hoan, hỷ sanh.
➻ do tâm hoan hỷ, thân được khinh an.
➻ do thân khinh an, lạc, thọ sanh.
➻ do lạc thọ, tâm được định tĩnh.
➻ do tâm định tĩnh, biết được, thấy được sự vật như chân.
➻ do biết, nhờ thấy như chân, yểm ly sanh.
➻ do yểm ly, ly dục sanh.
➻ do ly dục, vị ấy được giải thoát.

CHÍN PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Chín thanh tịnh cần chi


➻ Giới hạnh thanh tịnh thanh tịnh cần chi,
➻ tâm thanh tịnh thanh tịnh cần chi,
➻ kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi,
➻ đoạn nghi thanh tịnh thanh tịnh cần chi,
➻ đạo phi đạo tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi,
➻ tri kiến thanh tịnh thanh tịnh cần chi,
➻ tuệ thanh tịnh thanh tịnh cần chi,
➻ giải thoát thanh tịnh thanh tịnh cần chi.

CHÍN PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Chín hữu tình trú.


➻ có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng sai biệt, như loài người, một số chư Thiên, một số ở tại các đọa xứ.
➻ có những loài hữu tình, thân sai biệt, tưởng đồng nhất, như Phạm Chúng thiên khi mới tái sanh.
➻ có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng sai biệt như chư Quang Âm thiên.
➻ có loài hữu tình, thân đồng nhất, tưởng đồng nhất như chư Tịnh Cư thiên.
➻ có những loài hữu tình không có tưởng, không có thọ, như chư Vô Tưởng thiên.
➻ có những loài hữu tình vượt khỏi sắc tưởng một cách hoàn toàn, diệt trừ các sân tưởng, không có tác ý sai biệt tưởng, chứng được Hư không vô biên xứ: Hư không là vô biên.
➻ có những loài hữu tình vượt khỏi Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Thức vô biên xứ: Thức là vô biên.
➻ có những loài hữu tình vượt khỏi Thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng Vô sở hữu xứ: Không có vật gì.
➻ có những loài hữu tình vượt khỏi Vô sở hữu xứ một cách hoàn toàn, chứng Phi tưởng phi phi tưởng xứ. 

CHÍN PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ: Chín ái căn pháp.


➻ Do duyên ái, tầm cầu sanh.
➻ do duyên tầm cầu, đắc lợi sanh.
➻ do duyên đắc lợi, phân biệt sanh.
➻ do duyên phân biệt, tham dục sanh.
➻ do duyên tham dục, thủ trước sanh.
➻ do duyên thủ trước. chấp trì sanh.
➻ do duyên chấp trì, xan tham sanh.
➻ do duyên xam tham. hộ trì sanh.
➻ do duyên hộ trì, chấp trượng, chấp kiến, tránh tụng, tranh luận, tương phản, ly gián ngữ, vọng ngôn, và các ác bất thiện pháp khai sanh. 

CHÍN PHÁP CHỊU PHẦN TAI HẠi: Chín hại tâm.


➻ Người ấy đã làm hại tôi, xung đột khởi lên.
➻ Người ấy đang làm hại tôi, xung đột khởi lên.
➻ Người ấy sẽ làm hại tôi, xung đột khởi lên.
➻ Người ấy đã làm hại người tôi thương, người tôi mến…
➻ Người ấy đang làm hại…
➻ Người ấy sẽ làm hại…, xung đột khởi lên.
➻ Người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến…
➻ Người ấy đang làm lợi…..
➻ người ấy sẽ làm lợi…, xung đột khởi lên.

CHÍN PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Chín điều phục hại tâm.


➻ người ấy đã làm hại tôi. Có ích lợi gì mà nghĩ như vậy? Nhờ vậy xung đột được điều phục.
➻ người ấy đang làm hại tôi…
➻ người ấy sẽ làm hại tôi…
➻ người ấy đã làm hại người tôi thương…, …
➻ người ấy đang làm hại…
➻ người ấy sẽ làm hại người tôi thương, người tôi mến….
➻ người ấy đã làm lợi cho người tôi không thương, không mến…,
➻ người ấy đang làm lợi…
➻ người ấy sẽ làm lợi… 

CHÍN PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Chín loại sai biệt.


➻ Do duyên giới sai biệt, xúc sai biệt sanh.
➻ do duyên xúc sai biệt, thọ sai biệt sanh.
➻ do duyên thọ sai biệt. tưởng sai biệt sanh.
➻ do duyên tưởng sai biệt, tư duy sai biệt sanh.
➻ do duyên tư duy sai biệt, dục sai biệt sanh.
➻ do duyên dục sai biệt, nhiệt tình sai biệt sanh.
➻ do duyên nhiệt tình sai biệt. tầm cầu sanh.
➻ do duyên tầm cầu, sai biệt, đắc lợi sanh.

CHÍN PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Chín tưởng: Bất tịnh yểm ly tưởng, nhất thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tâm tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên ngã, đoạn trừ tưởng, vô tham tưởng.

CHÍN PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Chín thứ đệ trú.


➻ ở đây có vị Tỳ Khưu, ly ác bất thiện pháp, chứng và trú vào Thiền thứ nhất, có tầm có tứ có hỷ lạc do ly dục sanh.
➻ Diệt tầm diệt tứ… Thiền thứ hai…
➻ Thiền thứ ba…
➻ chứng và trú vào Thiền thứ tư.
➻ Sau khi vượt qua các sắc tưởng một cách hoàn toàn, sau khi trừ diệt các hữu đối tưởng, không có tác ý với các sai biệt tưởng, chứng và trú Hư không vô biên xứ: Hư không là vô biên.
➻ sau khi vượt qua Hư không vô biên xứ một cách hoàn toàn, với suy tư Thức là vô biên chứng và trú Thức vô biên xứ.
➻  Sau khi vượt qua thức vô biên xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Vô sở hữu xứ: Không có sự vật gì tất cả.
➻ Sau khi vượt qua một cách hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
➻ Sau khi vượt qua Phi tưởng phi phi tưởng xứ một cách hoàn toàn, chứng và trú Diệt thọ tưởng định.

CHÍN PHÁP CẦN ĐƯỢC CHỨNG NGỘ: Chín thứ đệ diệt.


➻  thành tựu Sơ thiền, các dục tưởng bị đoạn diệt.
➻  thành tựu đệ Nhị thiền, các tầm tứ bị đoạn diệt.
➻  thành tựu đệ Tam thiền, hỷ bị đoạn diệt.
➻  thành tựu đệ Tứ thiền, hơi thở vào hơi thở ra bị đoạn diệt.
➻ thành tựu hư không vô biên xứ, sắc tưởng bị đoạn diệt.
➻  thành tựu thức vô biên xứ, hư không vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt. thành tựu Vô hữu xứ, thức vô biên xứ tưởng bị đoạn diệt.
➻  thành tựu phi tưởng phi phi tưởng xứ, vô sở hữu xứ tưởng bị đoạn diệt.
➻  thành tựu diệt thọ tưởng (định), các tưởng và các thọ bị đoạn diệt.

MƯỜI PHÁP CÓ NHIỀU TÁC DỤNG: mười pháp hộ trì nhân pháp


➻ Vị Tỳ Khưu có giới hạnh, sống chế ngự với sự chế ngự của giới bổn pātimokkha, đầy đủ oai nghi, chánh hạnh, thấy nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt, thọ lãnh và tu học trong giới pháp.
➻ Vị Tỳ Khưu nghe nhiều, gìn giữ những gì đã nghe, chất chứa những gì đã nghe, Những pháp ấy, sơ thiện, trung thiện, hậu thiện, nghĩa lý văn cú cụ túc, đề cao đời sống phạm hạnh, hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh những pháp ấy, vị đã nghe nhiều, đã nắm giữ, đã ghi nhớ nhờ tụng đọc nhiều lần, chuyên ý quán sát, khéo thành tựu nhờ chánh kiến.
➻ Vị Tỳ Khưu là thiện hữu, thiện bạn lữ, là thiện bạn đảng.
➻ Vị Tỳ Khưu thiện ngôn, đầy đủ sự nhu hòa và khiêm nhường, nhẫn nại và nhận sự chỉ trích một cách cung kính.
➻ Khi nào có những trách nhiệm cần phải làm đối với các vị đồng phạm hạnh niên lạp cao hơn, vị ấy khéo léo, không có biếng nhác, suy tư một cách đầy đủ các phương tiện, vừa đủ để làm, vừa đủ để tổ chức.
➻ Có vị Tỳ Khưu ưa Pháp, ái luyến nói Pháp, tự mình vô cùng hoan hỷ đối với Thắng pháp, Thắng luật.
➻ Vị Tỳ Khưu tự mình bằng lòng với các vật dụng nhận được như y phục, ẩm thực, sàng tọa, bệnh dược.
➻ Vị Tỳ Khưu sống tinh tấn siêng năng đoạn trừ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết, kiên trì tinh tấn, nhẫn trì không phế bỏ các thiện pháp.
➻ Vị Tỳ Khưu chánh niệm, đầy đủ tối thượng niệm và tỉnh giác, nhớ đến và ghi nhớ những điều nói và làm từ lâu.
➻ Vị Tỳ Khưu có huệ trí, đầy đủ sanh diệt trí, hướng đến sự quyết trạch các bậc Thánh, chân chánh diệt trừ mọi đau khổ.

MƯỜI PHÁP CẦN ĐƯỢC TU TẬP: Mười biến xứ. Một vị nào biết được địa biến xứ: trên, dưới, ngang, bất nhị, vô lượng. Một vị biết được thủy biến… Một vị biết được hỏa biến… Một vị biết được phong biến… Một vị biết được thanh biến… Một vị biết được hoàng biến… Một vị biết được xích biến… Một vị biết được bạch biến… Một vị biết được hư không biến… Một vị biết được thức biến xứ: trên dưới, ngang, bất nhị, vô lượng.
MƯỜI PHÁP CẦN PHẢI BIẾN TRI: Mười xứ: Nhãn xứ, sắc xứ, tỷ xứ, thanh xứ, nhĩ xứ, hương xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ, xúc xứ.
MƯỜI PHÁP CẦN PHẢI ĐOẠN TRỪ: Mười tà pháp: Tà kiến, tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng, tà tinh tấn, tà niệm, tà định, tà trí, tà giải thoát.
MƯỜI PHÁP CHỊU PHẦN TAI Hại: Mười bất thiện nghiệp đạo: Sát sanh, thâu đạo, tà dâm, vọng ngôn, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ, tham, sân, tà kiến.
MƯỜI PHÁP ĐƯA ĐẾN THÙ THẮNG: Mười thiện nghiệp đạo: Ly sát sanh, ly thâu đạo, lỳ tà dâm, ly vọng ngôn, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu, ly ỷ ngữ, ly tham, ly sân, ly si.

MƯỜI PHÁP RẤT KHÓ THỂ NHẬP: Mười thánh cư:


➻ vị Tỳ Khưu đoạn trừ năm chi: đoạn trừ tham dục, đoạn trừ sân, đoạn trừ hôn trầm thụy miên, đoạn trừ trạo hối, đoạn trừ nghi.
➻ vị Tỳ Khưu đầy đủ sáu chi: mắt thấy sắc, không có thích ý, không có phật ý, an trú xả, chánh niệm, tỉnh giác, tại nghe tiếng… mũi ngửi hương… lưỡi nếm vị… thân cảm xúc… ý nhận thức pháp, không có thích ý, không có phật ý, trú xả, chánh niệm, tỉnh giác.
➻ vị Tỳ Khưu một hộ trì: thành tựu sự hộ trì về niệm.
➻ vị Tỳ Khưu có thực hiện bốn y: sau khi suy tư, thọ dụng một pháp. sau khi suy tư, nhẫn thọ một pháp. sau khi suy tư, đoạn trừ một pháp. sau khi suy tư tránh xa một pháp.
➻ vị Tỳ Khưu loại bỏ các giáo điều: ở đây, tất cả những giáo điều thông thường mà các vị Sa môn thông thường chủ trương, vị Tỳ Khưu đều loại bỏ, phóng xả.
➻ vị Tỳ Khưu đoạn tận các mong cầu: đoạn trừ các mong cầu về dục vọng, đoạn trừ các mong cầu về hiện hữu, làm cho an tịnh các mong cầu về phạm hạnh.
➻ vị Tỳ Khưu, tâm tư không trệ phược: đoạn trừ các tâm tư dục vọng, đoạn trừ các tâm tư sân hận, đoạn trừ các tâm tư não hại.
➻ Vị Tỳ Khưu thân hành được khinh an: đoạn trừ lạc, đoạn trừ khổ, diệt các hỷ ưu từ trước, chứng và an trú thiền thứ tư, không lạc, không khổ, xả niệm thanh tịnh.
➻ vị Tỳ khưu tâm thiện giải thoát: tâm giải thoát khỏi tham, tâm giải thoát khỏi sân, tâm giải thoát khỏi si.
➻ vị Tỳ Khưu tuệ thiện giải thoát: vị Tỳ Khưu biết rằng: Tham tâm của Ta đã được trừ, cắt tận gốc rễ, như cây ta-la bị chặt, đi đến chỗ không hiện hữu, không có khả năng sanh khởi trong tương lai …Sân tâm của Ta … Si tâm của ta …

MƯỜI PHÁP CẦN ĐƯỢC SANH KHỞI: Mười tưởng: Bất tịnh tưởng, tử tưởng, thực yểm ly tưởng, nhất thiết thế gian bất lạc tưởng, vô thường tưởng, khổ tưởng trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng.

MƯỜI PHÁP CẦN ĐƯỢC THẮNG TRI: Mười đoạn tận sự:


➻ Tà kiến do chánh kiến đoạn tận. do duyên tà kiến, các ác bất thiện pháp khởi lên, các pháp này được đoạn tận. do duyên chánh kiến các thiện pháp được tăng cường, viên mãn.
➻ tà tư duy do chánh tư duy đoạn tận…
➻ tà ngữ do chánh ngữ đoạn tận…
➻ tà nghiệp cho chánh nghiệp đoạn tận…
➻ tà tinh tấn do chánh tinh tấn đoạn tận…
➻ tà mạng do chánh mạng đoạn tận…
➻ tà niệm do chánh niệm đoạn tận…
➻ tà định do chánh định đoạn tận…
➻ tà trí do chánh trí đoạn tận…
➻ tà giải thoát do chánh giải thoát đoạn tận…

MƯỜI PHÁP CẦN ĐƯỢC CHỨNG NGỘ: Mười vô học pháp: Vô học Chánh tri kiến, vô học Chánh tư duy, vô học Chánh ngữ, vô học Chánh nghiệp, vô học Chánh mạng, vô học Chánh tinh tấn, vô học Chánh niệm. vô học Chánh định, vô học Chánh trí, vô học Chánh giải thoát.