THE DISCOURSE SUMMARIES OF S.N.GOENKA

(Tóm lược Pháp thoại của S.N.Goenka)

FOREWORD LỜI NÓI ĐẦU
 “Liberation can be gained only by practice, never by mere discussion, ” S.N Goenka  has said Thiền sư Goenka nói: “Giải thoát chỉ có thể đạt được bằng sự luyện tập, chứ không phải bằng việc bàn luận suông”
 A course in Vipassana meditation is an opportunity to take concrete steps towards liberation  Một khóa thiền Vipassana là cơ hội để bước đi những bước chắc chắn tiến đến giải thoát
 In such a course the participant learns how to free the mind of the tensions and prejudices that disturb the flow of daily life  Trong một khóa tu như thế, người tham dự sẽ học được cách làm cho tâm hết căng thẳng và xóa tan các thành kiến sai lầm gây xáo trộn trong cuộc sống hằng ngày
 By doing so one begins to discover how to live each moment peacefully, productively, happily  Bằng sự luyện tập này, ta bắt đầu biết cách sống từng giây phút đầy an lạc, hữu ích và hạnh phúc
 At the same time one starts progressing towards the highest goal to which mankind can aspire: purity of mind, freedom from all suffering, full enlightenment  Đồng thời ta bắt đầu tiến tới mục tiêu cao cả nhất mà nhân loại tìm cầu: thanh lọc tâm, thoát khỏi mọi khổ đau và giác ngộ hoàn toàn
 None of this can be attained just by thinking about it or wishing for it Tất cả những điều này không thể đạt được chỉ bằng sự suy tưởng hoặc mong ước
 One must take steps to reach the goal  Ta phải thực sự cất bước lên đường để đạt được mục đích
 For this reason, in a Vipassana course the emphasis is always on actual practice  Vì lý do này, trong một khóa thiền Vipassana, sự thực tập luôn luôn được chú trọng
 No philosophical debates are permitted, no theoretical arguments, no questions that are unrelated to one’s own experience  Thiền sinh không được phép tranh luận về triết lý, hoặc bàn cãi về lý thuyết, không có những câu hỏi không liên quan tới kinh nghiệm của riêng mình
 As far as possible, meditators are encouraged to find the answers to their questions within themselves  Thiền sinh được khuyến khích tìm ra câu trả lời cho những thắc mắc của mình ngay trong chính bản thân càng nhiều càng tốt
 The teacher provides whatever guidance is needed in the practice, but it is up to each person to implement these guidelines: one has to fight ones own battle, work out one’s own salvation  Vị Thầy đưa ra những hướng dẫn cần thiết cho việc tu tập, phần còn lại tùy thuộc vào mỗi người tự thực hành những hướng dẫn đó, thế cho nên ta phải tự chiến đấu với bản thân và tự tu tập để giúp chính mình
 Given this emphasis, still some explanation is necessary to provide a context for the practice Tuy được nhấn mạnh như thế, nhưng vẫn cần một vài lời giải thích để làm nền tảng cho sự thực tập
 Therefore every evening of a course Goenkaji gives a “Dhamma talk”, in order to put into perspective the experiences of that day, and to clarify various aspects of the technique  Vì vậy mỗi buổi tối trong suốt khóa thiền Thầy Goenka đều giảng một bài pháp thoại với mục đích đặt những kinh nghiệm thực tập của ngày hôm ấy vào bối cảnh chung của khóa thiền và làm sáng tỏ một số kỹ thuật
 These discourses, he warns, are not intended as intellectual or emotional entertainment  Tuy nhiên Thầy lưu ý rằng những bài giảng này không phải để tiêu khiển cho tâm trí hay tình cảm
 Their purpose is simply to help meditators understand what to do and why, so that they will work in the proper way and will achieve the proper results  Mục đích của những buổi pháp thoại này chỉ để giúp thiền sinh hiểu rõ phải làm gì và tại sao, để có thể luyện tập đúng đường lối và đạt được thành quả mong muốn
 It is these talks that are presented here in condensed form  Những bài giảng này được trình bày ở đây dưới hình thức tóm lược
 The eleven discourses provide a broad overview of the teaching of the Buddha  Mười một bài giảng này giúp chúng ta có một cái nhìn tổng quát về những lời chỉ dạy của Đức Phật
 The approach to this subject, however, is not scholarly or analytical  Tuy nhiên, cách trình bày đề tài ở đây không mang nặng tính học  thuật hay phân tích
 Instead the teaching is presented in the way that it unfolds to a meditator: as a dynamic, coherent whole  Thay vào đó, những lời chỉ dạy được trình bày theo lối mở ra cho thiền sinh một tổng thể sống động, mạch lạc
 All its different facets are seen to reveal an underlying unify: the experience of meditation  Mọi khía cạnh khác liên quan đều hàm chứa một sự thống nhất quan trọng: đó là kinh nghiệm từ việc hành thiền
 This experience is the inner fire that gives true life and brilliance to the jewel of the Dhamma  Kinh nghiệm này là ngọn lửa nội tâm cung cấp sức sống thực sự và sự sáng tỏ của giáo pháp quý báu
 Without this experience one cannot grasp the full significance of what is said in the discourses, or indeed of the teaching of the Buddha  Không có kinh nghiệm này, ta không thể nắm bắt được ý nghĩa trọn vẹn của những gì được giải thích trong các bài giảng hoặc hiểu được giáo pháp của Đức Phật
 But this does not mean that there is no place for an  intellectual appreciation of the teaching  Nhưng như vậy không có nghĩa là không có chỗ cho sự hiểu biết giáo pháp về mặt trí thức
 Intellectual understanding is valuable as a support to meditative practice, even though meditation itself is a process that goes beyond the limits of the  intellect  Sự hiểu biết trí thức rất có giá trị trong việc hỗ trợ sự hành thiền, mặc dù thiền tự nó là một tiến trình vượt ra ngoài những giới hạn của tri thức
 For this reason these summaries have been prepared, giving in brief the essential points of each discourse  Chính vì lý do đó, những bài tóm lược được soạn nhằm giới thiệu tóm tắt những điểm chính yếu của mỗi bài giảng
 They are intended mainly to offer inspiration and guidance to those who practice Vipassana meditation as taught by S.N. Goenka  Mục đích chính là mang lại sự khích lệ và hướng dẫn cho những người tu tập Vipassana do Thày Goenka giảng dạy
To others who happen to read them , it is hoped that they will provide encouragement to participate in a Vipassana course and to experience what is here described  Đối với những người tình cờ đọc được các bài tóm lược này, hy vọng rằng họ sẽ cảm nhận được sự khích lệ để tham dự một khóa thiền Vipassana và chứng nghiệm được những gì diễn tả nơi đây
 The summaries should not be treated as a do-it-yourself manual for learning Vipassana, a substitute for a ten-day course  Không nên dùng những bài tóm lược như một cẩm nang tự học thiền Vipassana, thay thế cho một khóa thiền mười ngày
 Meditation _ is a serious matter, especially the Vipassana technique, which deals with the depths of the mind  Thiền tập là một việc làm nghiêm túc, nhất là phương pháp Vipassana vì nó liên quan đến những cấp độ sâu thẳm của tâm thức
 It should never be approached lightly or casually  Không bao giờ nên đến với thiền một cách hời hợt và cẩu thả
 The proper way to learn Vipassana is only by joining a formal course, where there is a suitable environment to support the meditator, and a trained guide  Cách đúng nhất để học Vipassana là tham dự một khóa thiền chính thức, nơi có môi trường thích hợp và người hướng dẫn có khả năng để hỗ trợ thiền sinh
 If someone chooses to disregard this warning and tries to teach himself the technique only from reading about it, he proceeds entirely at his own risk  Nếu người nào cố tự tập bằng cách đọc sách, bất chấp sự khuyến cáo này, người đó sẽ hoàn toàn gánh chịu mọi rủi ro
 Fortunately courses in Vipassana meditation as taught by S.N.Goenka are now held regularly in many parts of the world  Rất may, những khóa thiền Vipassana do Thiền sư Goenka giảng dạy được tổ chức thường xuyên tại nhiều nơi trên thế giới
 Schedules may be obtained by writing to any of the centres listed in  the back of this book  Lịch trình các khóa thiền được thông báo trên trang web Vipassana: www.dhamma.org
 The summaries are based primarily on discourses given by Goenkaji at the Vipassana Meditation Centre, Massachusetts, USA  during August 1983  An exception is the Day Ten Summary, which is based on a discourse given at the Centre in August 1984  Những bài tóm lược hoàn toàn dựa trên những bài giảng của Thiền Sư Goenka tại Trung Tâm Thiền Vipassana, Massaschuetts, Hoa Kỳ, trong tháng 8 năm 1983, chỉ trừ bài thứ mười dựa trên bài giảng ở cùng trung tâm vào tháng 8 năm 1984
 While Goenkaji has looked through this material and approved it for publication, he has not had time to check the text closely  Mặc dù Thiền Sư Goenka đã xem qua nội dung và chấp thuận cho xuất bản, nhưng Thiền Sư không đủ thời gian để duyệt xét một cách kỹ lưỡng
 As a result, the reader may find some errors and discrepancies  Do đó, người đọc có thể tìm thấy những sai sót
 These are the responsibility not of the teacher, nor of the teaching, but of myself  Đây không phải là trách nhiệm của Thiền Sư, hoặc sự giảng  dạy, mà hoàn toàn do lỗi của tôi
 Criticism will be very welcome that might help to correct such flaws in the text  Xin hoan hỉ đón nhận mọi phê bình giúp sửa chữa những sai sót trong tài liệu này
 May this work help many in their practice of Dhamma  Mong rằng cuốn sách này sẽ giúp ích được nhiều người trong sự tu tập Dhamma
 May all beings be happy  Nguyện cho tất cả chúng sinh được hạnh phúc
 William Hart  William Hart
   
 NOTE ON THE TEXT  NHỮNG ĐIỀU CẦN LƯU Ý TRONG BẢN DỊCH
Sayings of the Buddha and his disciples that are quoted by Goenkaji are taken from the Collections of Discipline (Vinaya-pitaka ) and of Discourses (Sutta-pitaka) of the Pali canon  Những lời giáo huấn của Đức Phật và những vị đệ tử của Ngài được Thiền Sư Goenka trích dẫn từ Luật Tạng (Vinaya-pitaka) và Kinh Tạng (Sutta-pitaka) trong kinh điển Pali
 (A number of quotations appear in both Collections, although in such cases only the Sutta references are given here )   (Mặc dù trong vài trường hợp, một số trích dẫn có mặt trong cả hai Tạng, nhưng ở đây chỉ trình bày những tham khảo thuộc Kinh Tạng)
There are also a few quotations from post-canonical Pali literature  Ngoài ra có một vài đoạn trích dẫn khác từ những tài liệu thời hậu kinh Điển Pali
 In his talks, Goenkaji explains these passages more often by paraphrase than by word-for-word translation from the Pali  Trong những bài giảng, Thày Goenka giải thích các đoạn kinh thường bằng cách giảng chi tiết hơn là dịch nghĩa từng thuật ngữ Pali
 The intention is to give the essence of each passage in ordinary language, stressing its relevance to the practice of Vipassana meditation  Mục đích là để truyền đạt cốt lõi của các đoạn kinh bằng ngôn ngữ giản dị, nhấn mạnh sự liên quan đến việc hành thiền Vipassana
 Where a Pall passage appears in the summary, the explanation given is that of Goenkaji in the discourse on which the summary is based  Nơi mà đoạn kinh Pali xuất hiện trong bài tóm lược, lời giải thích của Thày Goenka ở ngay trong bài giảng được tóm lược ấy
 At the back of this book, in the section of Pali with English translation, an attempt has been made to give more exact renderings of the passages quoted, still emphasizing the point of view of a meditator  Phần sau của tập sách, phần tiếng Pali với lời dịch tiếng Việt, có sự nỗ lực để thể hiện chính xác đoạn trích dẫn mà vẫn nhấn mạnh được quan điểm của một thiền giả
 In the text of the summaries, the use of Pali words has been kept to the necessary minimum  Trong những bài tóm lược, việc sử dụng các thuật ngữ Pali được hạn chế tối đa
 Where such words are used, for the sake of consistency their plurals are given in Pali form  Để thống nhất, nơi nào sử dụng những từ Pali, từ số nhiều cũng được viết theo tiếng Pali
 for example, the plural of sankhdra is sarilelnirit, that of kalapa is kaldpa, that of pdram i ispeiramT  ví dụ: số nhiều của sankhara là sankhara, của kalapa là kalapa
 Initial difficulties –  the purpose of this meditation – why respiration is chosen as the starting point –  the nature of the mind –  the reason for the difficulties, and how to deal with them  –  dangers to be avoided  
 Universal definition of sin and piety –  the Noble Eightfold Path: sila and samadhi  
 The Noble Eightfold Path: panna  –  received wisdom, intellectual wisdom, experiential wisdom – the kalapa  –  the four elements –  the three characteristics: impermanence, the illusory nature of the ego, suffering – penetration through apparent reality  
 Questions on how to practise Vipassana – the law of  kamma – importanceof mental action – lour aggregates of the mind: consciousness, perception, sensation, reaction –  remaining aware and equanimous is the way to emerge from suffering  
 The Four N ob le Truths: suffering, the cause of suffering, the eradication of suffering, the way to eradicate suffering – the chain of conditioned arising  
 I mportance of developing awareness and equanimity towards sensations –  the four elements and their relation to the sensations –  the four causes of the arising of matter –  the five hindrances: craving, aversion, mental and physical sluggishness, agitation, doubt  
 Importance of eq u an im ity tow ard s su b tle as w e ll as gro ss sensations –  continuity of awareness –  five ‘friends’: faith, effort, awareness, concentration, wisdom  
 The law of multiplication and its reverse, the law of eradication –  equanimity is the greatest welfare –  equanimity enables one to live a life of real action – by remaining equanimous, one ensures a happy  
 future for oneself  
 Application of the technique in daily life – the ten parami  
 Review of the technique  
 How to continue practising after the end of the course  
 Pali Passages Quoted in the Discourses  
 Centres for the Practice of Vipassana Meditation  
 THE DISCOURSE SUMMARIES  
 Namo tassa bhagavato arahato  
 samma-sambuddhassa  
   
 DAY ONE DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ NHẤT
 Initial difficulties –  the purpose of this meditation –  why respiration is chosen as the point – the nature of  the mind –  the reason for the difficulties, and how to deal with them –  dangers to be avoided  Những khó khăn ban đầu – mục đích của phương pháp thiền này – tại sao hơi thở được chọn làm điểm khởi đầu – bản chất của tâm – nguyên nhân của những khó khăn và cách đối phó – những nguy hiểm cần phải tránh
 The first day is full of great difficulties and discomforts, partly because one is not accustomed to sit all day long and to try to meditate, but mostly because of the type of meditation that you have started practising: awareness of respiration, nothing but respiration  Ngày đầu tiên chúng ta gặp rất nhiều khó khăn và khó chịu, một phần vì chúng ta không quen ngồi cả ngày và cũng không quen việc nỗ lực hành thiền, nhưng phần lớn là do phương pháp thiền mà quý vị bắt đầu thực tập: đó là sự thiết lập ý thức về hơi thở, chỉ hơi thở mà thôi
 It would have been easier and faster to concentrate the mind without all these discomforts if, along with awareness of respiration, one had started repeating a word, a mantra, a god’s name, or if one had started imagining the shape or form of a deity  Ta có thể định tâm dễ dàng và mau lẹ hơn mà không bị trở ngại vì những khó chịu này nếu cùng một lúc với sự ý thức về hơi thở, ta bắt đầu lặp đi lặp lại một từ, một câu chú, danh hiệu của một vị thần linh, hoặc nếu ta bắt đầu tưởng tượng ra một hình ảnh, một hình dáng của một vị thần
 But you are required to observe bare respiration, as it naturally is, without regulating it  no word or imagined form may be added  Nhưng quý vị được yêu cầu chỉ quan sát hơi thở đúng như bản tánh tự nhiên của nó, không bị điều khiển, không được thêm vào một tiếng nói hoặc một hình ảnh tưởng tượng nào
 They are not permitted because the final aim of this meditation is not concentration of mind  Những cách trên không được phép bởi vì mục đích cuối cùng của phương pháp thiền này không phải là sự định tâm
 Concentration is only a help, a step leading to a higher goal: purification of mind, eradicating all the mental defilements, the negativities within, and thus attaining liberation from all misery, attaining full enlightenment  Định tâm chỉ là một sự hỗ trợ, một nấc thang để đưa đến một mục tiêu cao thượng hơn: đó là sự thanh lọc tâm, diệt trừ mọi phiền não ô nhiễm, mọi bất thiện trong tâm, và nhờ đó được giải thoát khỏi mọi khổ đau, được giác ngộ hoàn toàn
 Every time an impurity arises in the mind, such as anger, hatred, passion, fear etc … , one becomes miserable  Mỗi lần một bất tịnh nảy sinh trong tâm như giận dữ, thù ghét, đam mê, sợ hãi,  …  ta trở nên khổ sở
 Whenever something unwanted happens, one becomes tense and starts tying knots inside  Bất cứ khi nào có điều bất như ý xảy ra, ta trở nên căng thẳng và bắt đầu thắt những nút rối trong lòng
 Whenever something wanted does not happen, again one generates tension within  Rồi khi không đạt được những điều mong ước, ta cũng lại tạo ra căng thẳng trong người
 Throughout life one repeats this process until the entire mental and physical structure is a bundle of Gordian knots  Ta lặp đi lặp lại lối hành xử này trong suốt cuộc đời cho tới khi toàn thể cơ cấu thể xác và tinh thần trở thành một đống nút thắt (nội kết) hầu như không thể tháo gỡ được
 And one does not keep this tension limited to oneself, but instead distributes it to all with whom one comes into contact  Và ta không giữ sự căng thẳng này cho riêng mình mà trái lại thường làm lây lan ra cho những người xung quanh
 Certainly this is not the right way to live  Chắc chắn đây không phải lối sống đúng đắn
You have come to this meditation course to learn the art of living: how to live peacefully and harmoniously within oneself, and to generate peace and harmony for all others  Quý vị đã tới khóa thiền này để học một nghệ thuật sống: làm sao để sống an lạc, hài hòa với chính mình, và để tạo ra sự an lạc và hài hòa cho mọi người khác
 how to live happily from day to day while progressing towards the highest happiness of  a totally pure mind, a mind filled with disinterested love, with compassion, with joy at the success of others, with equanimity  làm sao sống được hạnh phúc từ ngày này sang ngày khác đồng thời tiến tới hạnh phúc tột đỉnh của một tâm hồn hoàn toàn thanh khiết, một tâm hồn tràn đầy tình thương không vụ lợi, tràn đầy từ bi, hỉ lạc trước sự thành đạt của người khác, và tràn đầy sự bình tâm
 To learn the art of living harmoniously, first one must find the cause of disharmony  Để học nghệ thuật sống một cách hài hoà, trước tiên ta phải tìm ra nguyên nhân của sự bất hòa
 The cause always lies within, and for this reason you have to explore the reality of yourself  Nguyên nhân này luôn luôn tiềm ẩn bên trong, vì vậy quý vị phải tìm hiểu sự thực về chính mình
 This technique helps you to do so, to examine your own mental and physical structure, towards which there is so much attachment, resulting only in tensions, in misery  Phương pháp này giúp quý vị tìm hiểu, khảo sát cơ cấu tinh thần và thể xác của chính mình, là nơi có nhiều vướng mắc, ràng buộc chỉ đưa đến căng thẳng, khổ đau
 At the experiential level one must understand one’s own nature, m ental and physical  Ta phải hiểu rõ bản chất của mình về cả tinh thần lẫn thể xác ở mức độ thực nghiệm
 only then can one experience whatever there might be beyond mind and matter  Chỉ như vậy, chúng ta mới có thể chứng nghiệm được những gì bên ngoài phạm vi tinh thần và thể xác
 This is therefore a technique of truth-realization, self-realization, inves­ tigating the reality of what one calls ‘ oneself  Do đó, đây là phương pháp chứng thực chân lý, chứng thực về bản thân để tìm hiểu cái thực thể thường được gọi là “TA”
 It might also be called a technique of God-realization, since after all God is nothing but truth, but love, but purity  Đây cũng có thể gọi là phương pháp chứng ngộ Thượng Đế, bởi vì cuối cùng Thượng Đế không là gì khác ngoài chân lý, tình thương và sự thanh tịnh
 Direct experience of reality is essential  Kinh nghiệm trực tiếp về thực tại rất quan trọng
 “Know thyself  – from superficial, apparent, gross reality, to subtler realities, to the subtlest reality of mind and matter  “Hiểu biết chính mình” – từ việc hiểu một thực tại bề ngoài, hiển nhiên thô thiển, tới chỗ biết được những thực tại tinh tế hơn, rồi tới thực tại tinh tế nhất về thân và tâm
 Having experienced all these, one can then go further to experience the ultimate reality which is beyond  mind and matter  Sau khi thể nghiệm những thực tại này, ta có thể tiến xa hơn để thể nghiệm thực tại rốt ráo vượt ra ngoài giới hạn của thân và tâm
 Respiration is a proper point from which to begin this journey  Hơi thở là một điểm thích hợp để bắt đầu cuộc hành trình này
 Using a self-created, imaginary object of attention –  a word or form – will lead only in the direction of greater imaginings, greater illusion  Sự chú tâm bằng cách dùng một đối tượng tự tạo, tưởng tượng – một câu chú hoặc một hình ảnh, chỉ đưa đến nhiều tưởng tượng hơn, nhiều ảo tưởng hơn
 it will not help one to discover the subtler truths about oneself  Nó sẽ không giúp ta tìm thấy những sự thật tinh tế hơn về chính mình
 To penetrate to subtler truth, one must begin with truth, with an apparent, gross reality such as respiration  Để thâm nhập vào sự thật vi tế hơn, ta phải bắt đầu bằng sự thật, bằng một thực tại dễ nhận biết, thô thiển, là hơi thở
 Further, if a word is used, or the form of a deity, then the technique becomes sectarian  Hơn nữa, nếu dùng một câu chú, hoặc hình ảnh của một vị thần, thì khi đó phương pháp này sẽ mang tính tông phái
 A word or form will be identified with one culture, one religion or another, and those of a different background m ay find it unacceptable  Một câu chú hoặc một hình ảnh sẽ thuộc về một nền văn hóa, một tôn giáo này hay một tôn giáo khác, và những người từ các tầng lớp khác có thể sẽ không chấp nhận được
 Misery is a universal malady,  The remedy for this malady cannot be sectarian  Khổ là bệnh chung, thuốc chữa bệnh này không thể là thuốc chữa của riêng một tông phái nào
 it also must be universal  thuốc chữa phải là thuốc chung cho mọi người
 Awareness of respiration meets this requirement Breath is common to all: observing it will be acceptable to all  Ý thức về hơi thở phù hợp cho yêu cầu này,  Mọi người đều quen thuộc với hơi thở: quan sát hơi thở sẽ được mọi người chấp nhận
 Every step on the path must be totally free from sectarianism  Mỗi bước đi trên con đường tu tập phải hoàn toàn thoát khỏi chủ nghĩa tông phái
 Breath is a tool with which to explore the truth about oneself  Hơi thở là một phương tiện để ta tìm hiểu sự thật về chính mình
 Actually, at the experiential level, you know very little about your body  Thực ra, ở mức  độ thực nghiệm, quý vị biết rất ít về cơ thể của mình
 You know only its external appearance, the parts and functions of it that you can consciously control  Quý vị chỉ biết đến hình tướng bên ngoài, những bộ phận cùng chức năng mà quý vị, có thể kiểm soát được một cách có ý thức
 You know nothing of the internal organs which operate beyond your control, nothing of the cells of which the entire body is composed, and which are chan­ ging every moment  Quý vị không biết gì về các cơ quan nội tạng.  Chúng hoạt động ngoài tầm kiểm soát của quý vị.  Quý vị không biết gì về những tế bào kết hợp thành cơ thể mình, chúng thay đổi từng giây từng phút
 Innumerable biochemical and electromagnetic   reactions are occurring constantly throughout the body, but you have no knowledge of them  Quý vị không biết gì về vô số những phản ứng sinh hoá, điện từ xảy ra liên tục trong khắp toàn thân
 On this path, whatever is unknown about yourself must become known to you  Trên con đường tu tập này, bất cứ những gì chưa biết về bản thân phải được quý vị biết đến
 For this purpose respiration will help  Hơi thở sẽ giúp ích cho mục đích này
 It acts as a bridge from the known to the unknown, because respiration is one function of the body that can be either conscious or unconscious, intentional or automatic  Hơi thở giữ vai trò như là nhịp cầu nối liền cái biết với cái chưa biết bởi vì sự hô hấp là một chức năng của cơ thể có thể hoạt động một cách có ý thức hoặc vô ý thức, cố tình hay tự động
 One starts with conscious, intentional breathing, and proceeds to awareness of natural, normal breath  Ta bắt đầu với sự hít thở có ý thức, có chủ ý và tiến dần đến việc ý thức được hơi thở tự nhiên, bình thường
 And from there you will advance to still subtler truths about yourself  Và từ đó quý vị sẽ tiến tới một sự thật tinh tế hơn nữa về con người của mình
 Every step is a step with reality  Mỗi bước tu tập là một bước đi trong thực tại
 every day you will penetrate further to discover subtler realities about yourself, about your body and mind  Mỗi ngày quý vị sẽ thâm nhập sâu hơn để khám phá được những thực tại vi tế hơn về mình, về thân và tâm của mình
 Today you were asked to observe only the physical function of respiration but at the same time, each one of you was observing the mind, because the nature of the breath is strongly connected to one’s mental state  Hôm nay quý vị được yêu cầu chỉ quan sát chức năng vật lý của hơi thở, nhưng đồng thời mỗi người cũng quan sát tâm bởi vì bản chất của hơi thở gắn liền với trạng thái tâm
 As soon as any impurity, any defilement arises in the mind, the breath becomes abnormal – one starts breathing a little rapidly, a little heavily  Bất cứ bất tịnh hay phiền não nào nảy sinh trong tâm lập tức hơi thở trở nên bất bình thường – ta bắt đầu thở dồn dập hơn, mạnh hơn
 When the defilement passes away, the breath again becomes soft  Khi phiền não qua đi, hơi thở sẽ trở lại nhẹ nhàng
 Thus breath can help to explore the reality not only of the body, but also of the mind  Do đó, hơi thở giúp ta khám phá thực tại không những của thân mà còn của tâm nữa
 One reality of mind, which you began to experience today, is its habit of always wandering from one object to another  Hôm nay quý vị bắt đầu kinh nghiệm được một thực tại của tâm đó là thói quen đi lang thang từ đối tượng này sang đối tượng khác
 It does not want to stay on the breath, or on any single object of attention: instead it mns wild  Nó không muốn trụ vào hơi thở hoặc bất cứ đối tượng nào khác của sự chú tâm, trái lại, nó chạy lung tung
And when it wanders, where does the mind go? By your practice, you have seen that it wanders either in the past or in the future  Và khi đi lang thang, tâm đi những đâu? Bằng cách thực tập, quý vị thấy rằng tâm hay lang thang về quá khứ hoặc tới tương lai
 This is the habit pattern of the mind,  it does not want to stay in the present moment  Đây là khuôn mẫu thói quen của tâm, tâm không muốn ở yên trong hiện tại
 Actually, one has to live in the present  Thực ra, ta phải sống trong hiện tại
 Whatever is past is gone beyond recall,  whatever is future remains beyond one’s reach, until it becomes present  Những gì đã qua đi không thể lấy lại được, những gì trong tương lai thì nằm ngoài tầm tay ta cho tới khi nó trở thành hiện tại
 Remembering the past and giving thought to the future are important, but only to the extent that they help one to deal with the present  Tưởng nhớ về quá khứ hay nghĩ tới tương lai đều quan trọng nhưng chỉ trong giới hạn để giúp ta đối phó với hiện tại
 Yet because of its ingrained habit, the mind constantly tries to escape from present reality into a past or future that is unattainable, and therefore this wild mind remains agitated, miserable  Tuy nhiên, vì thói quen cố hữu, tâm luôn luôn tìm cách trốn tránh thực tế trong hiện tại mà tìm về những gì ngoài tầm tay, thuộc quá khứ hay tương lai,  Do đó cái tâm đi hoang này luôn luôn bất an, khổ sở
 The technique that you are learning here is called the art of living, and life can really be lived only in the present  Phương pháp mà quý vị đang học ở đây được gọi là nghệ thuật sống và cuộc đời chỉ có thể được sống thực sự trong hiện tại
 Therefore the first step is to learn how to live in the present moment, by keeping the mind on a present reality: the breath that is now entering or leaving the nostrils  Do đó, bước đầu tiên là học cách sống trong giây phút hiện tại bằng cách giữ tâm trong thực tại trước mắt, đó là hơi thở đang đi vào và ra khỏi lỗ mũi
 This is a reality of this moment, although a superficial one  Đây chính là thực tại của giây phút này mặc dù chỉ là  một thực tại hời hợt
 When the mind wanders away, smilingly, without any tension, one accepts the fact that,  because of its old habit pattern, it has wandered  Khi tâm đi lang thang, hãy mỉm cười, không một chút bức xúc, ta chấp nhận sự thực là, vì khuôn mẫu thói quen cố hữu, tâm đã đi lang thang
 As soon as one realizes that the mind has wandered, naturally, automatically, it will return to awareness of respiration  Ngay lúc ta nhận ra rằng tâm đã đi lang thang, tâm sẽ tự động quay trở lại với ý thức về hơi thở một cách tự nhiên
 You easily recognised the tendency of the mind to roll in thoughts either of the past or of the future  Chúng ta dễ dàng nhận ra khuynh hướng của tâm thường chìm đắm trong suy nghĩ về quá khứ hay tương lai
 Now of what type are these thoughts? Today you have seen for yourselves that at times thoughts arise without any sequence, any head or tail  Vậy những ý nghĩ này thuộc loại nào? Hôm nay chính chúng ta nhận thấy rằng nhiều lúc ý nghĩ nảy sinh không mạch lạc, không có đầu đuôi
 Such mental behavior is commonly regarded as a sign of madness  Những hành vi tinh thần như thế thường được coi là triệu chứng của sự điên khùng
 Now, however, you have all discovered that you are equally mad, lost in ignorance, illusions, delusions  –  moha   Tuy nhiên giờ đây chúng ta phát hiện ra rằng chúng ta đều điên khùng như thế, chìm đắm trong vô minh, ảo tưởng, hoang tưởng – moha
Even when there is a sequence to the thoughts, they have as their object something that is either pleasant or unpleasant  Ngay cả khi có ý nghĩ mạch lạc, đối tượng của ý nghĩ sẽ là những gì dễ chịu hoặc khó chịu
 If it is pleasant, one starts reacting with liking, which develops into craving, clinging –  raga  Nếu là dễ chịu, ta bắt đầu phản ứng bằng sự yêu thích, yêu thích trở thành thèm muốn, rang buộc – raga
 If it is unpleasant, one starts reacting with disliking, which develops into aversion, hatred  –  dosa   Nếu ý nghĩ là khó chịu, ta bắt đầu phản ứng bằng sự không ưa thích rồi biến thành chán ghét, bực bội – dosa
The mind is constantly fille d  ith ignorance, craving, and aversion  Tâm thức lúc nào cũng tràn đầy vô minh, thèm muốn, chán ghét
 All other impurities stem from these three basic ones, and every impurity makes one miserable  Tất cả mọi bất tịnh khác đều bắt nguồn từ ba tâm bất tịnh căn bản này và mọi bất tịnh đều làm ta đau khổ
 The goal of this technique is to purify the mind, to free it from misery by gradually eradicating the negativities within  Mục tiêu của phương pháp này là để thanh lọc tâm, để giải thoát tâm khỏi sự đau khổ bằng cách xóa bỏ dần những phiền não bên trong
 It is an operation deep into one’s own unconscious, performed in order to uncover and remove the complexes hidden there  Đây là một cuộc giải phẫu sâu tận trong vô thức, giải phẫu để tìm thấy và loại trừ những phiền não tiềm ẩn trong đó
 Even the first step of the technique must purify the mind, and this is the case: by observing respiration, you have started not only to concentrate the mind, but also to purify it  Ngay bước đầu của phương pháp cũng phải thanh lọc tâm,và đúng như vậy: bằng cách quan sát hơi thở chúng ta đã khởi sự không những định được tâm mà còn thanh lọc được tâm
 Perhaps during today there were only a few moments when your mind was fully concentrated on your breathing, but every such moment is very powerful in changing the habit pattern of the mind  Trong ngày hôm nay, có thể có vài lúc tâm ta hoàn toàn để ý đến hơi thở, nhưng mỗi giây phút như thế có tác động rất mãnh liệt vào việc thay đổi khuôn mẫu thói quen của tâm
 In that moment, you are aware of the present reality, the breath entering or leaving the nostrils, without any illusion  Trong giây phút đó, quý vị có ý thức về thực tại, hơi thở vào hoặc ra khỏi lỗ mũi, không một chút ảo tưởng
 And you cannot crave for more breath, or feel aversion towards your breathing: you simply observe, without reacting to it  Và quý vị không thể thèmm muốn có thêm hoặc cảm thấy chán ghét hơi thở của chính mình: quý vị đơn giản là chỉ quan sát mà không phản ứng lại
 In such a moment, the mind is free from the three basic defilements, that is, it is pure  Trong giây phút như vậy, tâm không còn ba tâm phiền não căn bản, có nghĩa là, tâm được thanh tịnh
 This moment of purity at the conscious level has a strong impact on the old impurities accumulated in the unconscious  Giây phút thanh tịnh này ở tầng ý thức có ảnh hưởng sâu đậm đến những bất tịnh lâu đời chất chứa trong vô thức
 The contact of these positive and negative forces produces an explosion  Sự va chạm giữa những động lực tích cực và tiêu cực này tạo ra sự bùng nổ
 Some of the impurities hidden in the unconscious rise to the conscious level, and manifest as various mental or physical discomforts  Một vài bất tịnh vùi sâu trong vô thức sẽ trồi lên tầng ý thức và biểu lộ thành những cảm giác khó chịu khác nhau về tinh thần hay thể xác
 When one faces such a situation, there is the danger of becoming agitated, and multiplying the difficulties  Khi gặp phải trường hợp như thế, sẽ có nguy cơ ta trở nên bất an và những khó khăn phát sinh nhiều hơn
 However, it would be wise to understand that what seems to be a problem is actually a sign of  success in the meditation, an indication that in fact the technique has started to work  Tuy nhiên ta nên khôn ngoan để hiểu rằng, những cái có vẻ là khó khăn thực ra là dấu hiệu của sự thành công trong việc hành thiền, một dấu hiệu  cho thấy phương pháp thiền này bắt đầu có hiệu nghiệm
 The operation into the unconscious has begun, and some of the pus hidden there has started to come out of the wound  Cuộc giải phẫu vào trong vô thức đã bắt đầu, và một số những ung nhọt nằm sâu trong đó bắt đầu ra khỏi vết thương
 Although the process is unpleasant, this is the only way to get rid of the pus, to remove the impurities  Mặc dầu tiến trình không được dễ chịu, nhưng đây là đường lối duy nhất để loại bỏ ung nhọt, để diệt trừ bất tịnh
 If one continues working in the proper way, all these difficulties will gradually diminish  Nếu ta tiếp tục tu tập đúng cách, mọi khó khăn sẽ từ từ biến mất
 Tomorrow will be a little easier, next day more so  Ngày mai sẽ dễ dàng hơn một chút, ngày mốt càng dễ hơn nữa
 Little by little, all the problems will pass away, if you work  Từng chút một, tất cả những khó khăn sẽ biến mất nếu quý vị luyện tập kiên trì
 Nobody else can do the job for you  Không ai có thể tu tập thay cho quý vị
 you have to work yourself  quý vị phải tự mình tu tập lấy
 You have to explore reality within yourself  Quý vị phải tìm hiểu sự thật trong chính mình
You have to liberate yourself  Quý vị phải tự giải thoát mình
 Some advice about how to work:  Vài lời khuyên về cách luyện tập:
 During meditation hours, always meditate indoors  Trong những giờ hành thiền, luôn luôn thiền trong nhà
 If you try to meditate outside in direct contact with the light and wind, you will  not be able to penetrate to the depths of your mind  Nếu thiền ngoài trời, tiếp xúc trực tiếp với ánh sáng và gió, quý vị không thể thâm nhập vào chiều sâu của tâm
 During breaks you may go outside  Trong giờ nghỉ quý vị có thể ra ngoài
 You must remain within the limits of the course site  Quý vị phải ở trong phạm vi của trung tâm thiền
 You are performing an operation on your mind  remain in the operating room  Quý vị đang giải phẫu tâm mình, nên ở trong phòng giải phẫu
Resolve to remain for the entire period of the course, no matter what difficulties you may face  Quyết tâm ở lại trọn khóa thiền, bất kể những khó khăn quý vị có thể gặp phải
 When problems arise during the operation, remember this strong determination  Dù gặp khó khăn trong lúc luyện tập, hãy cố gắng duy trì quyết tâm mạnh mẽ này
 It can be harmful to leave in the middle of a course  Nếu bỏ về giữa khóa thiền, có thể sẽ gặp nguy hiểm
 Similarly, make a strong determination to observe all the discipline and rules, of which the most important is the rule of silence  Tương tự, hãy quyết tâm tuân thủ mọi nội quy, điều lệ, trong đó điều lệ giữ im lặng là quan trọng nhất
 Also resolve to follow the timetable, and specially to be in the hall for the three one-hour sittings of group meditation each day  Nhất quyết theo đúng thời khóa biểu và nhất là phải có mặt tại thiền đường trong ba lần ngồi thiền chung mỗi ngày, mỗi lần một giờ
 Avoid the danger of overeating, of allowing yourself to succumb to drowsiness, and of needless talking  Tránh nguy cơ của việc ăn quá nhiều,  Tránh rơi vào hôn trầm và nói những điều không cần thiết
 Work exactly as you are asked to work  Tu tập đúng theo sự hướng dẫn
 Without condemning it, leave aside for the course period anything that you may have read or learned elsewhere  Trong thời gian khóa thiền, đừng chê bai những gì quý vị đã đọc hoặc học được ở nơi khác,  Hãy gác chúng qua một bên
 Mixing techniques is very dangerous  Pha trộn các phương pháp lại với nhau sẽ rất nguy hiểm
 If any point is not clear to you, come to the guide for clarification  Nếu có điều gì chưa hiểu rõ, quý vị hãy tới gặp người hướng dẫn để được sáng tỏ
 But give a fa ir trial to this technique  Nhưng hãy thử tập theo phương pháp này một cách công bằng
 if you do so, you will get wonderful results  nếu làm đúng như vậy, quý vị sẽ gặt hái được thành quả tốt đẹp
 Make best use of the time, the opportunity, the technique, to liberate yourselves from the bondages of craving, aversion, delusion, and to enjoy real peace, real harmony, real happiness  Hãy tận dụng thời gian, cơ hội, phương pháp để giải thoát mình khỏi mọi ràng buộc của sự ham muốn, ghét bỏ, và ảo tưởng để hưởng được an lạc thực sự, hài hòa thực sự, hạnh phúc thực sự
 Real happiness to you all  Mong tất cả quý vị được hạnh phúc thực sự
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY TWO DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ HAI
 Universal definition of sin and piety the Noble –  Eightfold Path: sila and samadhi  Định nghĩa chung về ác và thiện – Bát Thánh Đạo: sila và samadhi
 The second day is over  Ngày thứ hai đã qua
 Although it was slightly better than the first day, difficulties still remain  Mặc dầu ngày thứ hai có khá hơn ngày thứ nhất một chút, nhưng những khó khăn vẫn còn
 The mind is so restless, agitated, wild, like a wild bull or elephant which creates havoc when it enters a human dwelling-place  Tâm còn nhiều bất an, bồn chồn, hoang dại như con bò rừng hay con voi rừng sẽ gây ra nhiều thiệt hại khi vào nơi cư ngụ của con người
 If a wise person tames and trains the wild animal, then all its strength, which has been used for destructive purposes, now begins to serve society in constructive ways  Nếu một người khôn khéo thuần hóa và huấn luyện được con thú rừng, thì tất cả sức mạnh của nó, thay vì để phá hoại, sẽ bắt đầu phục vụ xã hội một cách hữu hiệu
 Similarly the mind, which is far more powerful and dangerous than a wild elephant, must be tamed and trained  Tương tự như thế, tâm trí mạnh hơn và nguy hiểm hơn voi rừng rất nhiều, nó cần phải được thuần hóa và huấn luyện
 then its enormous strength will start to serve you  sau đó sức mạnh lớn lao của tâm trí sẽ bắt đầu phục vụ cho chúng ta
 But you must work very patiently, persistently, and continuously  Nhưng chúng ta phải tu tập thật nhẫn nại, thật kiên trì và liên tục
 Continuity of practice is the secret of  success  Sự tu tập liên tục là bí quyết của thành công
 You have to do the work,  no-one else can do it for you  Chúng ta phải tự tu tập, không ai có thể tu tập thay cho ta
 With all love and compassion an enlightened person shows the way to work, but he cannot carry anyone on his shoulders to the final goal  Với tất cả tình thương và lòng từ bi, một vị đã giác ngộ chỉ dạy cho ta con đường tu tập,  Nhưng Ngài không thể cõng ta để đi đến mục đích cuối cùng
 You must take steps yourself, fight your own battle, work out your own salvation  Chúng ta phải tự mình bước đi, tự mình chiến đấu, tự mình tu tập để giải thoát
 Of course, once you start working, you receive the support of all the Dhamma forces, but still you have to work yourself  Dĩ nhiên một khi ta bắt đầu tu tập, chúng ta sẽ nhận được rất nhiều sức mạnh hỗ trợ của Dhamma, nhưng chúng ta phải tự mình tu tập
 You have to walk the entire path yourself  Chúng ta phải tự mình đi hết con đường
 Understand what is the path on which you have started walking  Nên hiểu rõ con đường chúng ta đi theo là con đường gì
 The Buddha described it in very simple terms:  Đức Phật mô tả con đường này bằng những lời dạy giản dị:
 Abstain from all sinful, unwholesome actions, perform only pious wholesome ones, purify the mind  Tránh mọi điều ác, làm những điều lành, thanh lọc tâm
 this is the teaching of enlightened ones  đó là lời dạy của chư Phật
 It is a universal path, acceptable to people of any background, race, or country  Đây là đường lối chung được mọi người thuộc mọi thành phần, thuộc mọi chủng tộc và mọi quốc gia chấp nhận
 But the problem comes in defining sin and piety  Nhưng khi định nghĩa thế nào là thiện và thế nào là  bất thiện thì lại có vấn đề
 When the essence of Dhamma is lost, it becomes a sect,  Khi tinh túy của Dhamma bị mất đi, Dhamma trở thành tông phái
and then each sect gives a different definition of piety, such as having a particular external appearance, or performing certain rituals, or holding certain beliefs  Rồi mỗi tông phái đưa ra một định nghĩa khác nhau về thiện, chẳng hạn như bề ngoài phải như thế nào, hoặc phải cử hành những nghi lễ gì, hoặc phải tin vào một điều gì
 All these are sectarian definitions, acceptable to some and not to others  Tất cả chỉ là những định nghĩa mang tích cách tông phái, được một số người chấp nhận nhưng bị một số khác phủ nhận
 Dhamma, however, gives a universal definition of sin and piety  Nhưng Dhamma đưa ra một định nghĩa chung về bất thiện và thiện
 Any action that harms others, that disturbs their peace and harmony, is a sinful, unwholesome action  Bất cứ hành động nào làm hại người khác, quấy rối sự an lạc, hài hòa của người khác là bất thiện, là xấu ác
 Any action that helps other, that contributes to their peace and harmony, is a pious, wholesome action  Bất cứ hành động nào giúp ích cho người khác, mang lại an lạc, hài hòa cho người khác là thiện, là lành
 This is a definition in accordance not with any dogma, but rather with the law of nature  Đây là một định nghĩa không theo tông phái nào mà chỉ dựa theo luật tự nhiên
 And according to the law of nature, one cannot perform an action that harms others without first generating a defilement in the mind – anger, fear, hatred, etc  Và theo luật tự nhiên, trước khi ta có thể làm những việc có hại cho người khác, tâm ta phải chất chứa những phiền não như nóng giận, sợ hãi, thù hận, 
 and whenever one generates a mental defilement, then one becomes miserable, one experiences the sufferings of hell within  Và mỗi khi phát sinh phiền não trong tâm, ta trở nên khổ sở, ta sống trong địa ngục nội tâm
 Similarly, one cannot perform an action that helps others without first generating love, compassion, good will  Tương tự, ta không thể làm những việc giúp ích người khác nếu trước đó ta không phát sinh tình thương, lòng từ bi và thiện chí
 and as soon as one starts developing such pure mental qualities, one starts enjoying heavenly peace within  Và ngay khi ta phát triển được phẩm chất tốt của một tâm thanh tịnh, ta bắt đầu hưởng được một thiên đường an lạc nội tâm
 When you help others, simultaneously you help yourself  Khi ta giúp người khác, ta đồng thời giúp chính mình
 when you harm others, simultaneously you harm yourself  khi ta làm hại người khác, ta đồng thời làm hại chính ta
 This is Dhamma, truth, law – the universal law of nature  Đây là Dhamma, là sự thật, là quy luật – quy luật tự nhiên phổ quát
 The path of Dhamma is called the Noble Eightfold Path,   Con đường của Dhamma được gọi là Bát Thánh Đạo
noble in the sense that anyone who walks on it is bound to become a noble-hearted, saintly person  Thánh có nghĩa là ai đi theo đường lối này đương nhiên sẽ thành một người có tâm thánh thiện, một thánh nhân
 The path is divided into three sections: sila, samadhi, and panna. sila is morality –  abstaining from unwholesome deeds of body and speech  Con đường này được chia ra làm ba phần: sila, samadhi và panna.  Sila là đạo đức (giới)  – tránh những việc làm và lời nói bất thiện, làm những việc thiện
 samadhi is the wholesome action of developing mastery over one’s mind  Samadhi là làm những việc thiện lành để của sự phát triển việc làm chủ được tâm mình
 Practising both is helpful, but neither sila n o r samadhi can eradicate all the defilements accumulated in the mind  Thực tập cả hai rất có lợi, nhưng cả sila lẫn samadhi đều không thể diệt trừ được tất cả những phiền não tích luỹ trong tâm
 For this purpose the third section of the path must be practised: panna, the development of wisdom, of insight, which totally purifies the mind  Vì lý do này, ta phải luyện tập phần thứ ba của con đường: panna, phát triển tuệ chứng, tuệ giác, trí khôn
 Within the division of sila are three parts of the Noble Path-  Ba phần trong Bát Thánh Đạo thuộc về sila như sau:
Samma-vaca  –  right speech, purity of vocal action  1)  Samma-vaca Chánh ngữ– lời nói chân chính, nói những lời thanh tịnh
 To understand what is purity of speech, one must know what is impurity of speech  Để hiểu được lời nói thanh tịnh là gì, ta phải hiểu được lời nói bất tịnh ra sao
 Speaking lies to deceive others, speaking harsh words that hurt others, backbiting and slanderous talk, babbling and purposeless chatter are all impurities of vocal action  Nói dối để lừa gạt người, nói lời cay nghiệt làm tổn thương người, nói xấu sau lưng và vu khống, nói lời vô bổ và nhảm nhí, tất cả đều là những lời nói bất tịnh
 When one abstains from these, what remains is right speech  Khi ta tránh được hết những điều này, những gì còn lại là lời nói chân chính
 2)  Samma-kammanta – right action, purity of physical action  2)   Samma-kammanta Chánh nghiệp -hành động chân chính, hành động thiện
 On the path of Dhamma there is only one yardstick to measure the purity or impurity of an action, be it physical, vocal, or mental, and that is whether the action helps or harms others  Trên con đường của Dhamma, thước đo duy nhất để xác định những hành động bằng việc làm, lời nói hay ý nghĩ là tịnh hay bất tịnh chính là ở chổ hành động đó giúp ích  hay làm hại người khác
 Thus killing, stealing, committing rape or adultery, and becoming intoxicated so that one does not know what one is doing are all actions that harm  others, and also harm oneself  Do đó giết hại, trộm cắp, tà dâm, và say sưa đến độ không biết mình đang làm gì đều là những hành động có hại cho người đồng thời cũng hại chính mình
 When one abstains from these impure physical actions, what remains is right action  Khi ta tránh không làm những hành động bất tịnh này, những gì còn lại là hành động chân chính
 3) Samma-ajiva –  right livelihood  3)  Samma-ajiva Chánh mạng- nghề nghiệp chân chính
 Everyone must have some way to support himself and those who are dependent on him, but if the means of support is harmful to others, then it is not a right livelihood  Mọi người đều phải có việc làm để nuôi sống cho bản thân và cho thân nhân, nhưng nếu cách kiếm sống đó có hại cho người khác thì đó không phải là nghề nghiệp chân chính
 Perhaps one may not oneself perform wrong actions by one’s livelihood, but encourages others to do so  Có thể ta không làm những việc sai trái trong nghề nghiệp của mình nhưng lại khuyến khích người khác làm sai quấy
 if so one is not practising right livelihood  vậy là ta cũng kiếm sống một cách không chân chính
 For example, selling liquor, operating a gambling den, selling arms, selling living animals or animal flesh are none of them right livelihoods  Ví dụ: bán rượu, mở sòng bạc, bán vũ khí, bán thú vật hoặc bán thịt đều không phải là nghề nghiệp chân chính
 Even in the highest profession, if one’s motivation is only to exploit others, then one is not practicing right livelihood  Ngay cả những nghề lương thiện, nhưng chỉ với mục đích bóc lột người khác, như vậy là ta đã không kiếm sống một cách chân chính
 If the motivation is to perform one’s part as a member of society, to contribute one’s own skills and efforts for the general good, in return for which one receives a just remuneration by which one maintains oneself and one’s dependents, then such a  person is practising right livelihood  Nếu mục đích là để làm tròn nhiệm vụ của một cá nhân trong xã hội, đóng góp khả năng, nỗ lực cho lợi ích chung, để bù lại, ta chỉ nhận thù lao vừa phải để nuôi sống cho bản thân và cho người thân  Như vậy là ta hành nghề chân chính
 A householder, a lay person, needs money to support himself  Một chủ gia đình, một cư sĩ cần tiền để nuôi bản thân
 The danger, however, is that earning money becomes a means to inflate the ego: one seeks to amass as much as possible for oneself, and feels contempt for those who earn less  Tuy nhiên mối nguy hiểm là khi việc kiếm tiền trở thành một hình thức thổi phồng bản ngã: ta tìm cách tích lũy cho mình càng nhiều càng tốt, và khinh rẻ người kiếm được ít hơn
 Such an attitude banns others and also harms oneself, because the stronger the ego, the further one is from liberation  Một thái độ như thế, có hại cho người khác đồng thời có hại cho chính mình vì tự ngã càng lớn chừng nào ta càng cách xa sự giải thoát chừng ấy
 Therefore one essential aspect of right livelihood is giving charity, sharing a portion of what one earns with others  Bởi vậy, một phần quan trọng của lối sống chân chính là đóng góp từ thiện, chia sẻ một phần những gì ta kiếm được cho người khác
 Then one earns not only for one’s own benefit but also for  the benefit of others  Khi đó ta kiếm sống không những cho riêng mình mà còn giúp ích cho người khác nữa
 If Dhamma consisted merely of exhortations to abstain from actions that harm others, then it would have no effect  Nếu Dhamma chỉ đơn thuần gồm có sự chú ý vào việc tránh làm hại người khác thì Dhamma không có hiệu nghiệm
 Intellectually one may understand the dangers of performing unwholesome actions and the benefits of performing wholesome ones, or one may accept the importance of sila out of devotion to those who preach it  Trên lý thuyết, ta có thể hiểu sự nguy hại trong việc làm ác và lợi ích của việc làm lành hoặc ta có thể chấp nhận sự quan trọng của sila chỉ vì lòng ngưỡng mộ đối với những người thuyết giảng về đạo đức
 Yet one continues to perform wrong actions, because one has no control over the mind  Tuy nhiên ta vẫn tiếp tục làm những việc bất thiện bởi vì ta không kiểm soát được tâm mình
 Hence the second division of Dhamma, samadhi – developing mastery over one’s own mind  Do đó phải luyện tập phần thứ hai của Dhamma, samadhi – phát triển việc làm chủ được tâm
 Within this division are another three parts of the Noble Eightfold Path:  Trong việc này có ba phần của Bát Thánh Đạo:
 4 ) Samma-vayama –  right effort, right exercise  4)   Samma-vayama Chánh tinh tấn – nỗ lực chân chính, tu tập đúng cách
 By your practice you have seen how weak and infirm the mind is, always wavering from one object to another  Qua sự thực tập, quý vị đã thấy tâm trí yếu đuối và chao đảo đến chừng nào, luôn luôn nhảy hết từ đối tượng này sang đối tượng khác
 Such a mind requires exercise to strengthen it  Một tâm như thế cần được luyện tập để được vững mạnh hơn
 There are four exercises to strengthen the mind: removing from it any unwholesome qualities it may have, closing it to any unwholesome qualities it does not have, preserving and  multiplying those wholesome qualities that are present in the mind, and opening it to any wholesome qualities that are missing  Có bốn cách luyện tập làm cho tâm vững mạnh: diệt trừ những  bất tịnh đã có trong tâm, không cho bất tịnh mới nảy sinh, bảo tồn và gia tăng những điều thiện đang có trong tâm, và trau dồi những điều thiện còn thiếu sót
 Indirectly, by the practice of awareness of respiration (A napana) you have started performing these exercises  Bằng cách tập ý thức về hơi thở (Anapana) quý vị đã gián tiếp bắt đầu thực hành sự luyện tập này
samma-sati  –  right awareness, awareness of the reality of the present moment  5)  Samma-sati Chánh niệm – ý thức chân chính, ý thức về sự thật ở giây phút hiện tại
 Of the past there can only be memories  for the future there can only be aspirations, fears, imaginations  Hướng về quá khứ chỉ có những ký ức, hướng về tương lai chỉ có sự mong ước, lo sợ, tưởng tượng
 You have started practising samma-sati by training yourself to remain aware of whatever reality manifests at the present moment, within the limited area of the nostrils  Quý vị đã bắt đầu thực tập samma-sati bằng cách tập cho mình luôn luôn ý thức được những gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại, giới hạn trong phạm vị của mũi
 You must develop the ability to be aware of the entire reality, from the grossest to the subtlest level  Quý vị phải phát triển khả năng ý thức được toàn thể thực tại, từ thô thiển đến tinh tế nhất
 To begin, you gave attention to the conscious, intentional breath, then the natural, soft breath, then the touch of the breath  Để bắt đầu, quý vị để ý đến hơi thở có ý thức, có chủ ý, rồi đến hơi thở tự nhiên, nhẹ nhàng, sau đó chú ý đến sự xúc chạm của hơi thở
 Now you will take a still subtler object of attention: the natural, physical sensations within this limited area  Bây giờ quý vị sẽ chú tâm vào một đối tượng tinh tế hơn: những cảm giác của thân thể, những cảm giác tự nhiên trong khu vục giới hạn ở mũi
 You may feel the temperature of the breath, slightly cold as it enters, slightly warm as it leaves the body  Quý vị có thể cảm thấy nhiệt độ của hơi thở, lạnh hơn một chút khi vào, ấm hơn một chút khi ra khỏi cơ thể
 Beyond that, there are innumerable sensations not related to breath: heat, cold, itching, pulsing, vibrating, pressure, tension, pain, etc  Ngoài ra, còn vô số cảm giác không liên quan gì đến hơi thở như nóng, lạnh, ngứa, thoi thóp, rung động, đè nén, căng thẳng, đau nhức, 
 You cannot choose what sensation to feel, because you cannot create sensations  Quý vị không thể chọn lựa cảm giác mình muốn bởi vì quý vị không thể tạo ra cảm giác
 Just observe,   just remain aware  Chỉ quan sát, duy trì, để ý
 The name of the sensation is not important,  what is important is to be aware of the reality of the sensation without reacting to it  Tên của cảm giác không quan trọng, điều quan trọng là ta ý thức được thực trạng của cảm giác mà không phản ứng lại chúng
The habit pattern of the mind, as you have seen, is to roll in the future or in the past, generating craving or aversion  Như quý vị đã thấy, khuôn mẫu thói quen của tâm là chìm đắm trong tương lai hoặc quá khứ, tạo ra them muốn hay chán ghét
 By practising right awareness you have started to break this habit  Bằng cách thực tập về ý thức chân chính, quý vị đã bắt đầu xóa bỏ thói quen này
 Not that after this course you will forget the past entirely, and have no thought at all for the future  Không phải là sau khóa thiền này quý vị sẽ quên hết quá khứ và không còn một ý nghĩ nào về tương lai
 But in fact you used to waste your energy by rolling needlessly in the past or future, so much so that when you needed to remember or plan something, you could not do so  Nhưng trên thực tế, quý vị thường phí phạm năng lực của mình khi suy nghĩ lẩn quẩn một cách vô ích về quá khứ hoặc tương lai, phí phạm nó nhiều đến nỗi khi cần nhớ lại hoặc cần hoạch định một việc gì quý vị không thể làm được
 By developing samma-sati, you will learn to fix your mind more firmly in the present reality, and you will find that you can easily recall the past when needed, and make proper provisions for the future  Bằng cách phát triển samma-sati, quý vị sẽ học được cách chú tâm vào thực tại  Quý vị sẽ nhận thấy, khi cần, sẽ nhớ lại những gì đã qua một cách dễ dàng hơn và có thể hoạch định thỏa đáng cho tương lai
 You will be able to lead a happy, healthy life  Quý vị sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc và lành mạnh
 Samma-samadhi  –  right concentration  6)   Samma-samadhi – Chánh định- định chân chính
 Mere concentration is not the aim of this technique  Chỉ định tâm suông không phải là mục tiêu của phương pháp này
 the concentration you develop must have a base of purity  sự định tâm quý vị đạt được phải có nền tảng của sự thanh tịnh
 With a base of craving, aversion, or illusion one may concentrate the mind, but this is not samma-samadhi  Ta có thể định tâm trên nền tảng của lòng thèm muốn hay chán ghét hoặc vô minh, nhưng đây không phải là samma-samadhi
 One must be aware of the present reality within oneself, without any craving or aversion  Ta phải ý thức được thực tại trong bản thân, không một chút thèm muốn hay chán ghét
 Sustaining this awareness continuously from moment to moment – this is samma-samadhi  Giữ được sự ý thức này liên tục từ giây phút này sang giây phút khác chính là samma-samadhi
 By following scrupulously the five precepts, you have started practising sila  Bằng cách triệt để tuân thủ năm giới, quý vị đã bắt đầu thực tập sila
 By training your mind to remain focused on one point, a real object of the present moment, without craving or aversion, you have started developing samadhi  Bằng cách rèn luyện tâm trí chăm chú vào một điểm, một đối tượng có thực trong giây phút hiện tại này, quý vị đã bắt đầu có được samadhi
 Now keep working diligently(‘dɪlɪʤəntli), to sharpen your mind, so that when you start to practise panna you will be able to penetrate to the depths of the unconscious, to eradicate all the impurities hidden there, and to enjoy real happiness – the happiness of liberation  Giờ hãy luyện tập chuyên cần để cho tâm trở nên sắc bén, để khi bắt đầu thực tập panna, quý vị sẽ có khả năng thâm nhập vào những tầng sâu thẳm của vô thức, để tẩy trừ hết những bất tịnh nằm trong đó và hưởng được hạnh phúc thật sự – hạnh phúc của sự giải thoát
 Real happiness to you all  Mong tất cả quý vị được hạnh phúc thực sự
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc
   
 DAY THREE DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ BA
 The Noble Eightfold Path: panna  –  received wisdom, intellectual w isd o m , e x p e rie n tia l w is d o m  –  the kalapa – the four elements –  the three characteristics: im p e rm a n e n c e , the illusory n atu re of the ego,  suffering – penetrating through apparent reality  Bát Thánh Đạo: panna – trí tuệ thụ nhận, trí tuệ tư duy, trí tuệ thực chứng – các kalapa – bốn nguyên tố – ba đặc tính: vô thường, bản chất hư ảo của ngã, khổ – xuyên thấu sự thật hiển nhiên
 The third day is over  Ngày thứ ba đã qua
 Tomorrow afternoon you will enter the field of panna, wisdom, the third division of the Noble Eightfold Path  Chiều mai quý vị sẽ bước vào lĩnh vực panna, trí tuệ, phầnlĩnh thứ ba của Bát Thánh Đạo
 Without wisdom, the path remains incomplete  Không có trí tuệ con đường luyện tập sẽ không trọn vẹn
 One begins the path by practising sila, that is, by abstaining from causing harm to others  Ta bắt đầu cuộc hành trình bằng cách thực tập sila, nghĩa là, bằng cách tránh làm hại người khác
 but although one may not harm others, still one harms oneself by generating defilements in the mind  nhưng mặc dù không làm hại người khác ta vẫn làm hại chính mình bằng cách tạo ra phiền não trong tâm
 Therefore one undertakes the training of samadhi, learning to control the mind, to suppress the defilements that have arisen  Do đó ta tập luyện samadhi, học cách kiểm soát tâm, học cách đè nén những phiền não đã phát sinh
 However, suppressing defilements does not eliminate them  Tuy nhiên, đè nén những phiền não không thể loại trừ chúng được
 They remain in the unconscious and multiply there, continuing to cause harm to oneself  Chúng vẫn tồn tại trong vô thức và sinh sôi nảy nở, tiếp tục làm hại chính ta
 Therefore the third step of Dhamma, panna: neither giving a free licence to the defilements nor suppressing them, but instead allowing them to arise and be eradicated  Do đó bước thứ ba của Dhamma là panna: đó là không để những phiền não tự do hoành hành và cũng không đè nén chúng, nhưng trái lại cho phép chúng nảy sinh ra và bị diệt trừ
 When the defilements are eradicated, the mind is freed from impurities  Khi các phiền não bị diệt trừ, tâm sẽ không còn những bất tịnh
 And when the mind has been purified, then without any effort one abstains from actions that harm others since by nature a pure mind is full of goodwill and compassion for others  Và khi tâm đã được thanh lọc, không cần một nỗ lực nào, ta cũng tránh được những hành động có hại cho người khác bởi vì đặc tính của một tâm thanh tịnh là chứa đầy thiện chí và tình thương cho mọi người
 Similarly, without any effort one abstains from actions that harm oneself  Tương tự, không cần phải gắng sức ta cũng tránh được những hành động làm hại chính mình
 One lives a happy, healthy life  Ta sống một cuộc đời hạnh phúc và lành mạnh
 Thus each step of the path must lead to the next  Bởi vậy mỗi bước trên con đường luyện tập phải dẫn đến bước kế tiếp
 Sila leads to the development of samadhi, right concentration  Sila đưa tới sự phát triển samadhi, sự định tâm đúng cách
 samadhi leads to the developments of panna, wisdom which purifies the mind  samadhi đưa tới sự phát triển panna, trí tuệ để thanh lọc tâm
 panna leads to nibbana, liberation from all impurities, full enlightenment  panna đưa tới nibbana (niết bàn), thoát khỏi mọi bất tịnh, sự giác ngộ hoàn toàn
 Within the division of panna fall two more parts of the Noble Eightfold Path:  Có hai phần của Bát Thánh Đạo thuộc về panna:
 7)  Samma-sankappa –  right thoughts  7)  Samma-sankappa – Chánh tư duy- sự suy nghĩ chân chính
 It is not necessary that the entire thought process be stopped before one can begin to develop wisdom  Không cần thiết phải ngưng tiến trình suy nghĩ trước khi phát triển trí tuệ
 Thoughts remain, but the pattern of thinking changes  Ý tưởng vẫn còn, nhưng cách suy nghĩ thay đổi
 The defilements at the surface level of the mind start to pass away because of the practice of awareness of respiration  Những phiền não ở bề mặt của tâm mất đi nhờ ta thực hành ý thức về  hơi thở
 Instead of thoughts of craving, aversion, and delusion, one begins to have healthy thoughts, thoughts about Dhamma, the way to liberate  oneself  Thay cho những ý nghĩ liên quan đến them muốn, chán ghét và ảo tưởng, ta bắt đầu có những suy nghĩ lành mạnh, suy nghĩ về Dhamma, về con đường giải thoát
 8)Samma-ditthi  –  right understanding  8)  Samma-ditthi – Chánh kiến – sự hiểu biết chân chính
 This is real panna, understanding reality as it is, not just as it appears to be  Đây mới thực là panna, hiểu biết sự thật đúng như thật, chứ không phải tưởng như thật
 There are three stages in the development of panna, of wisdom  Có ba giai đoạn trong việc phát triển panna, phát triển trí tuệ
 The first is suta-m ayapanna, wisdom acquired by hearing or reading the words of another  Đầu tiên là suta-maya panna, trí tuệ có được nhờ nghe nói, hoặc đọc được những lời của người khác
 This received wisdom is very helpful in order to set one in the proper direction  Trí tuệ thụ nhận này rất hữu ích, giúp ta đi đúng đường
 However, by itself it cannot liberate, because in fact it is only a borrowed wisdom  Tuy nhiên, chỉ riêng nó thôi thì không thể giải thoát được vì trên thực tế nó chỉ là trí tuệ vay mượn
 One accepts it as true perhaps out of blind faith, or perhaps out of aversion, in the fear that disbelieving will lead one to hell, or perhaps out of craving, in the hope that believing will lead one to heaven  Ta chấp nhận nó là đúng có thể vì lòng tin mù quáng, có thể vì ghét bỏ, vì sợ nếu không tin theo sẽ bị xuống địa ngục, hoặc vì ước muốn, hy vọng nếu tin theo sẽ được lên thiên đường
 But in any case, it is not one’s own wisdom  Nhưng trong bất cứ trường hợp nào, nó cũng không phải là trí tuệ của chính mình
 The function of received wisdom should be to lead to the next stage: cinta-m ayapanna, intellectual understanding  Nhiệm vụ của trí tuệ thụ nhận phải đưa tới giai đoạn kế tiếp: cinta-maya panna, sự hiểu biết trí thức
 Rationally one examines what one has heard or read, to see whether it is logical, practical, beneficial  Dựa trên lý trí, ta thường tìm hiểu những gì ta nghe hoặc đọc được để xem xét chúng có hợp lý không, có thực tế không, có lợi ích không
 if so, then one accepts it  Nếu đúng như thế, thì ta chấp nhận chúng
 This rational understanding is also important, but it can be very dangerous if it is regarded as an end in itself  Sự hiểu biết có phân tích này cũng rất quan trọng nhưng nó cũng rất nguy hiểm nếu được coi là sự hiểu biết tối hậu
 Someone develops his intellectual knowledge, and decides that therefore he is a very wise person  Một người phát triển sự hiểu biết trí thức rồi do đó cho rằng mình là người rất khôn ngoan
 All that he learns serves only to inflate his ego  he is far away from liberation  Tất cả những gì người đó học được đều chỉ để thổi phồng bản ngã, người đó còn xa sự giải thoát nhiều lắm
 The proper function of intellectual understanding is to lead to the next stage  bhav ana-m ay a panna, the wisdom that develops within oneself, at the experiential level  Nhiệm vụ đúng đắn của trí thức là để đưa tới trình độ kế tiếp: bhavana-maya panna, trí tuệ đạt được ngay trong bản thân, ở mức độ thực nghiệm
 This is real wisdom  Đây mới là sự hiểu biết thực sự
 Received wisdom and intellectual understanding are very useful if they give one inspiration and guidance to take the next step  Sự hiểu biết thụ nhận hay trí thức rất hữu ích nếu chúng khích lệ, hướng dẫn ta tới giai đoạn kế tiếp
 However, it is only experiential wisdom that can liberate, because this is one’s own wisdom, based on one’s own experience  Tuy nhiên, chỉ có trí tuệ thực nghiệm mới có thể đưa ta tới giải thoát bởi vì đây là trí tuệ của chính mình, dựa trên kinh nghiệm bản thân
 An example of the three types of wisdom: a doctor gives a prescription for medicine to a sick man  Một ví dụ về ba loại trí tuệ: Một bác sĩ viết toa thuốc cho một bệnh nhân
 The man goes home, and out of great faith in his doctor, he recites the prescription every day  Người này về nhà, và vì sự tin tưởng hoàn toàn vào bác sĩ, ngày nào cũng mang toa thuốc ra đọc
 this is suta-maya panna  đây là suta-maya panna, trí tuệ thụ nhận
 Not satisfied with that, the man returns to the doctor, and demands and receives an explanation of the  prescription, why it is necessary and how it will work  Không hài lòng như thế, người đó trở lại gặp bác sĩ và đòi hỏi được giải thích về toa thuốc, tại sao lại cần thiết và công hiệu của toa thuốc
 this is cinta- maya Finally the man takes the medicine  đây là cinta-maya panna, trí tuệ trí thức ,  Cuối cùng người đó uống thuốc
 only then is his disease eradicated  chỉ như vậy người đó mới hết bệnh
 The benefit comes only from the third step, the bhavana-mayd panna  Hiệu quả chỉ đạt được sau khi thực hiện phần thứ ba, bhavana-maya panna, trí tuệ tự chứng
 You have come to this course to take the medicine yourself, to develop your own wisdom  Quý vị tới khóa thiền này để chính mình uống thuốc, để phát triển trí tuệ cho mình
 To do so, you must understand truth at the experiential level  Muốn làm được như thế quý vị phải hiểu sự thật ở mức độ thực nghiệm
 So much confusion exists because the way things appear to be is totally different from their real nature  Rất nhiều hiểu lầm xảy ra vì những điều tưởng như thật hoàn toàn khác hẳn với sự thật
 To remove this confusion, you must develop experiential wisdom  Để tránh khỏi sự nhầm lẫn này, quý vị phải có được trí tuệ thực nghiệm
 And outside of the framework of the body, truth cannot be experienced  it can only be intellectualized  Và bên ngoài cơ thể của ta, sự thật không thể được chứng nghiệm mà chỉ có thể suy luận mà thôi
 Therefore you must develop the ability to experience truth within yourself, from the grossest to the subtlest levels, in order to emerge from all illusions, all bondages  Do đó, quý vị phải phát triển được khả năng chứng nghiệm được sự thật bên trong bản thân, từ chỗ thô thiển nhất tới chỗ tinh tế nhất, để thoát khỏi mọi ảo tưởng, mọi vướng mắc, ràng buộc
 Everyone knows that the entire universe is constantly changing, but mere intellectual understanding of this reality will not help  Mọi người đều biết là vũ trụ thay đổi không ngừng, nhưng chỉ sự hiểu biết của lý trí về thực tại này không giúp ích được gì cả
 one must experience it within oneself  ta phải chứng nghiệm được sự thay đổi ấy trong chính ta
 Perhaps a traumatic event, such as the death of someone near or dear, forces one to face the hard fact of impermanence, and one starts to develop wisdom, to see the futility of striving after worldly goods and quarrelling with others  Có thể khi một việc đau buồn xảy ra, như một người gần gũi hoặc thân thiết qua đời, đối diện với thực tế phũ phàng này của sự vô thường, ta bắt đầu có trí tuệ, thấy được sự vô nghĩa trong việc theo đuổi những của cải trần tục, hoặc việc tranh cãi với người khác
 But soon the old habit of egotism reasserts itself, and the wisdom fades, because it was not based on direct, personal experience  Nhưng chẳng bao lâu, thói quen cũ của tự ngã khẳng định lại quyền lực của nó, và trí tuệ này bị lu mờ dần bởi nó không dựa trên kinh nghiệm trực tiếp của cá nhân
 One has not experienced the reality of impermanence within oneself  Ta đã không chứng nghiệm được sự thật của vô thường ngay trong ta
 Everything is ephemeral, arising and passing away every moment  –  anicca  Mọi sự đều đổi thay, sinh và diệt từng giây phút – anicca
 but the rapidity and continuity of the process create the illusion of permanence  nhưng tiến trình này xảy ra quá nhanh và liên tục nên tạo ra ảo tưởng mọi việc đều bất biến, không thay đổi
 The flame of a candle and the light of an electric lamp are both changing constantly  Ngọn lửa của cây nến và ánh sáng của bóng đèn điện đều thay đổi không ngừng
 If by one’s senses one can detect the process of change, as is possible in the case of the candle flame, then one can emerge from the illusion  Nếu ta phát hiện được tiến trình thay đổi bằng các giác quan của mình, như trong trường hợp ánh sáng của đèn cầy, ta có thể thoát khỏi ảo tưởng
 But when, as in the case of the electric light, the change is so rapid and continuous that one’s senses cannot detect it, then the illusion is far more difficult to break  Nhưng khi sự thay đổi xảy ra quá nhanh và liên tục như trường hợp của bóng đèn điện mà các giác quan của ta không thể phát hiện được thì sự phá vỡ ảo tưởng khó hơn rất nhiều
 One may be able to detect the constant change in a flowing river, but how is one to understand that the man who bathes in that river is also changing every moment?  Ta có thể nhận ra sự thay đổi không ngừng của một dòng sông đang chảy nhưng làm sao ta hiểu được rằng, người đang tắm trong dòng sông đó cũng đang thay đổi từng giây từng phút?
 The only way to break the illusion is to leam to explore within oneself, and to experience the reality of one’s own physical and mental structure  Cách duy nhất để phá vỡ ảo tưởng là tập cách tìm hiểu ngay trong bản thân, và tự chứng nghiệm được thực tại của cơ cấu thân và tâm của chính mình
 This is what Siddhartha Gotama did to become a Buddha  Đây là điều mà thái tử Siddhattha Gotama đã làm để trở thành một vị Phật
 Leaving aside all preconceptions, he examined himself to discover the true nature of the physical and mental structure  Bỏ qua một bên tất cả những điều đã biết trước đây, Ngài tìm hiểu về chính Ngài để phát hiện ra bản tánh thực sự của cơ cấu vật chất và tinh thần
 Starting from the level of superficial, apparent reality, he penetrated to the subtlest level, and he found that the entire physical structure,  the entire material world, is composed of subatomic particles, called in Pan attha kalapa  Bắt đầu từ thực tại nông cạn, hiển nhiên bề ngoài, Ngài thâm nhập tới từng lớp vi tế nhất, và khám phá ra rằng toàn thể cơ cấu vật chất được cấu tạo bằng những vi tử, tiếng Pali gọi là attha kalapa
 And he discovered that each such particle consists of the four elements –  earth, water, fire, air – and their subsidiary characteristics  Ngài nhận thấy mỗi vi tử gồm có bốn nguyên tố chính – đất, nước, gió, lửa, và những đặc tính của chúng
 These particles, he found, are the basic building blocks of matter, and they are themselves constantly arising and passing away, with great rapidity – trillions of times within a second  Ngài phát hiện ra rằng những vi tử này là những phần tử căn bản kết hợp thành vật  chất, và chúng sinh ra rồi diệt đi rất nhanh – hàng tỉ tỉ lần trong một giây
 In reality there is no solidity in the material world  Trên thực tế, không có sự chắc đặc trong thế giới vật chất
 it is nothing but combustion and vibrations  không có gì ngoài sự bùng cháy và những rung động
 Modern scientists have confirm ed the findings of the Buddha, and have proved by experim ent that the entire material universe is composed of subatomic particles which rapidly arise and pass away  Các nhà khoa học hiện đại đã xác nhận những phát hiện của Đức Phật và đã chứng minh bằng thí nghiệm là thế giới vật chất gồm có những hạt cơ bản sinh diệt rất nhanh
 However, these scientists have not become liberated from all misery, because their wisdom is only intellectual  Tuy nhiên, các nhà khoa học này không thể thoát khỏi khổ đau bởi vì họ chỉ hiểu bằng lý trí, không giống như Đức Phật, họ không chứng nghiệm trực tiếp được sự thật bên trong chính họ
 Unlike the Buddha, they have not experienced truth directly, Within them selves  Chỉ khi nào ta tự chứng nghiệm được thực tại vô thường trong bản thân, khi đó ta mới có thể thoát khỏi đau khổ
 When one experiences personally the reality of one’s own impermanence, only then does one start to come out of misery  As the understanding of anicca develops within oneself, another aspect of wisdom arises: anatta, no T, no ‘mine’  Cùng lúc với sự hiểu biết về anicca phát triển trong bản thân, một sự hiểu biết khác của trí tuệ phát sinh: anatta, không có cái “ta” và không có cái “của ta”
 Within the physical and mental structure, there is nothing that lasts more than a moment, nothing that one can identify as an unchanging self or soul  Trong cấu trúc vật chất và tinh thần, không có một cái gì có thể tồn tại hơn một khoảnh khắc, không có gì có thể được xem là cái “ta”, hoặc một linh hồn không thay đổi
 If something is indeed ‘mine’, then one must be able to possess it, to control it  Nếu có một cái gì thật sự là “của ta”, thì ta phải làm chủ được chúng, phải kiểm soát được chúng
 but in fact one has no mastery even over one’s body: it keeps changing, decaying, regardless of one’s wishes  Nhưng trên thực tế, ta không làm chủ được ngay cả thân xác mình: nó luôn luôn thay đổi, hủy hoại không kể gì đến ước muốn của ta
 Then the third aspect of wisdom develops: dukkha, suffering  Kế đến, sự hiểu biết thứ ba của trí tuệ phát sinh: dukkha, khổ
 If one tries to possess and hold on to something that is changing beyond one’s control, then one is bound to create misery for oneself  Nếu ta cố làm chủ và bám giữ những gì đang thay đổi ngoài tầm kiểm soát của mình thì đương nhiên ta tạo ra khổ cho chính mình
Commonly, one identifies suffering with unpleasant sensory experiences, but pleasant ones can equally be causes of misery, if one develops attachment to them, because they are equally impermanent  Thông thường, ta nhận biết khổ qua những cảm giác khó chịu, nhưng cảm giác dễ chịu cũng tạo ra khổ không kém nếu ta dính mắc vào các cảm giác ấy, bởi vì chúng cũng vô thường như thế
 Attachment to what is ephemeral is certain to result in suffering  Bám víu vào những gì phù du tạm bợ chắc chắn sẽ đưa tới khổ
 When the understanding of anicca, anatta, and d u k kh a is strong, this wisdom will manifest in one’s daily life  Khi sự hiểu biết về anicca, anatta, và dukkha trở nên vững mạnh, trí tuệ này sẽ thể hiện trong cuộc sống hằng ngày của ta
 Just as one has learned to penetrate beyond the apparent reality within, so in external circumstances one w ill be able to see the apparent truth, and also the ultimate truth  Cũng như khi ta đã học được cách thâm nhập, vượt qua sự thật hiển nhiên bên trong, thì trong những hoàn cảnh bên ngoài ta sẽ có khả năng thấy được sự thật hiển nhiên đồng thời cũng là sự thật tối hậu
 One comes out of illusions and lives a happy, healthy life  Ta thoát khỏi ảo tưởng và sống một cuộc đời hạnh phúc và lành mạnh
 Many illusions are created by apparent, consolidated, integrated reality –  for example, the illusion of physical beauty  Rất nhiều ảo tưởng hình thành từ một sự thật hiển nhiên, chắc chắn, rõ ràng  – chẳng hạn ảo tưởng về sắc đẹp thể xác
 The body appears beautiful only when it is integrated  Thân xác chỉ đẹp khi còn kết hợp với nhau thành một khối
 Any part of it, seen  separately, is without attraction, without beauty  –  asubha   Bất cứ bộ phận nào khi nhìn riêng rẽ sẽ không còn hấp dẫn, không còn đẹp nữa – asubha
 Physical beauty is superficial, apparent reality, not ultimate truth  Vẻ đẹp thể xác là một thực tại có tính nông cạn, hiển nhiên, không phải là sự thật tối hậu
 However, understanding the illusory nature of physical beauty will not lead to hatred of others  Tuy nhiên, hiểu được bản chất hư ảo của vẻ đẹp thể xác không đưa đến sự ghét bỏ người khác
 As wisdom arises, naturally the mind becomes balanced, detached, pure, full of good will towards all  Khi trí tuệ đã phát sinh, tâm trí tự nhiên trở nên quân bình, không dính  mắc, thanh tịnh, đầy thiện ý đối với mọi người
 Having experienced reality within oneself, one can come out of illusions, cravings, and aversions, and can live peacefully and happily  Khi đã chứng nghiệm được sự thực trong chính mình, ta sẽ hết ảo tưởng, thèm muốn, chán ghét để sống được một cuộc sống an lạc và hạnh phúc
 Tomorrow afternoon, you will take your first steps in the field of panna when you start to practise Vipassana  Chiều mai, quý vị sẽ bước những bước đầu tiên trong lãnh vực panna khi thực tập Vipassana
 Do not expect that as soon as you begin you will see all the subatomic particles arising and passing away throughout the body  Không nên nghĩ rằng ngay sau khi bắt đầu, quý vị sẽ thấy những hạt vi tử sinh và diệt trong khắp cơ thể
 No, one begins with gross, apparent truth, and by remaining equanimous, gradually one penetrates to subtler truths, to the ultimate truths of mind, of matter, of the mental factors and finally to the ultimate truth which is beyond mind and matter  Không phải như thế, ta bắt đầu bằng sự thật thô thiển, hiển nhiên, và bằng cách giữ được sự bình tâm, dần dần ta sẽ thâm nhập vào sự thật tinh tế hơn, tới những sự thật tối hậu về tinh thần và vật chất, và sau cùng, tới sự thật tối hậu vượt ra ngoài thân và tâm
 To attain this goal, you must work yourself  Để đạt được mục đích này, quý vị phải tự mình luyện tập
 Therefore keep your, sila strong, because this is the base of your meditation, and keep practicing Anapana until 3 pm  tomorrow  Do đó nên giữ sila của mình vững mạnh hơn, bởi vì đây là nền móng của sự thực hành, và tiếp tục tập Anapana cho tới 3 giờ chiều ngày mai
 keep observing reality within the area of the nostrils  tiếp tục quan sát thực tại trong phạm vi quanh mũi
 Keep sharpening your mind so that when you start Vipassana tomorrow, you can penetrate to the deeper levels and eradicate the impurities hidden there  Tiếp tục làm cho đầu óc bén nhạy để khi khởi sự Vipassna vào ngày mai quý vị có thể thâm nhập vào những tầng lớp sâu hơn và diệt trừ được những bất tịnh tiềm ẩn trong đó
 Work patiently, persistently, continuously, for your own good, your own liberation  Hãy luyện tập kiên nhẫn, bền bỉ, liên tục, vì sự tốt đẹp và sự giải thoát của quý vị
 May all of you be successful in taking the first steps on the path of liberation  Nguyện cho quý vị thành công trong những bước đầu tiên trên con đường giải thoát
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY FOUR DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ TƯ
 Questions on how to practise Viposscma the la w of kamma –  importance of mental action four aggregates of the m ind: consciousness, perception, sensation, reaction remaining aware and equanimous is the way to emerge from suffering  Những câu hỏi liên quan đến cách thức luyện tập Vipassana – luật về nghiệp – tầm quan trọng về hành động của tâm – bốn thành phần của tâm: hay biết, nhận định, cảm giác, phản ứng (tạo nghiệp) – duy trì ý thức và sự bình tâm là đường lối để thoát khổ
 The fourth day is a very important day  Ngày thứ tư là ngày rất quan trọng
 You have started taking dips in the Ganges of Dhamma within, exploring the truth about yourself at the level of bodily sensations  Quý vị đã bắt đầu nhúng mình vào dòng sông Dhamma, tìm hiểu sự thật về chính con người mình ở lĩnh vực các cảm giác trên thân
 In the past, because of ignorance, these sensations were causes for the multiplication of your misery, but they can also be tools to eradicate misery  Trong quá khứ, vì vô minh, những cảm giác này là nguồn gốc sinh sôi nảy nở của khổ đau, nhưng chúng cũng là phương tiện để diệt trừ khổ
 You have taken a first step on the path to liberation by learning to observe bodily sensations and to remain equanimous  Quý vị đã khởi sự bước trên con đường giải thoát bằng cách học cách quan sát cảm giác trên cơ thể và duy trì sự bình tâm
 Some questions about the technique which are frequently asked:  Vài câu hỏi thường được đặt ra về cách thực tập này:
 Why move the attention through the body in order, and why  Tại sao phải di chuyển sự chú tâm trên khắp cơ thể theo thứ tự, và tại sao phải theo thứ tự này?
 in this order? A ny order m ay be followed, but an order is necessary  Thứ tự nào cũng được, nhưng thứ tự rất cần thiết
 Otherwise there is the danger of neglecting some parts of the body, and those parts will remain blind, blank  Nếu không, sẽ có nguy cơ bỏ sót vài chỗ trên cơ thể, và những chỗ đó sẽ vẫn còn bị mù mờ, bỏ trống
 Sensations exist throughout the body, and in this technique, it is very important to develop the ability to experience them everywhere  Cảm giác hiện diện khắp mọi chỗ trên cơ thể, và trong phương pháp này, điều rất quan trọng là phát huy được khả năng cảm nhận được chúng trên toàn thân
 For this purpose moving in order is very helpful  Vì lý do này, di chuyển theo thứ tự rất có lợi
 If in a part of the body there is no sensation, you may keep your attention there for a minute  Nếu chỗ nào trên cơ thể không có cảm giác, quý vị có thể dừng sự chú tâm ở đó một phút
 In reality there is sensation there, as in every particle of the body, but it is of such a subtle nature that your mind is not aware of it consciously, and therefore this area seems blind   Trên thực tế, tại đó cũng như tại mọi chỗ khác trên cơ thể đều có cảm giác, nhưng ở trong trạng thái rất tinh tế khiến tâm quý vị không cảm nhận được và như thế chỗ này có vẻ như mơ hồ
stay for a minute, observing calmly, quietly and equanimously  Nên dừng lại nơi đó một phút, quan sát một cách bình tĩnh, yên lặng và bình tâm
 Don’t develop craving for a sensation, or aversion towards the blindness  Không sinh lòng ham muốn có một cảm giác hoặc ghét bỏ sự mù mờ
 If you do so, you have lost the balance of your mind, and an unbalanced mind is very dull  it certainly cannot experience the more subtle sensations  Nếu làm như thế, quý vị đã đánh mất sự bình tâm, và một tâm mất quân bình thì thiếu bén nhạy, chắc chắn sẽ không nhận biết được những cảm giác tinh tế  hơn
 But if the mind remains balanced, it becomes sharper and more sensitive, capable of detecting subtle sensations  Nhưng nếu tâm được giữ quân bình, nó sẽ trở nên bén nhạy hơn và có khả năng nhận biết được các cảm giác vi tế hơn
 Observe the area equanimously for about a minute, not more  Hãy bình tâm quan sát từng vùng khoảng một phút, không nên nhiều hơn
 If within a minute no sensation appears,  then smilingly move further  Nếu trong một phút không cảm thấy cảm giác nào xuất hiện, hãy mỉm cười di chuyển tiếp
 Next round, again stay for a minute  Trong vòng kế tiếp lại ngừng tại đó một phút
 sooner or later you will begin to experience sensations there and throughout the body  không sớm thì muộn, quý vị sẽ bắt đầu cảm thấy cảm giác tại nơi đó và trên khắp cơ thể
 If you have stayed for a minute and still cannot feel a sensation, then try to feel the touch of your clothing if it is a covered area, or the touch of the atmosphere if it is uncovered  Nếu quý vị đã dừng ở đó một phút mà vẫn không cảm thấy gì thì nên cảm nhận sự cọ xát của áo quần nếu đây là khu vực được che kín, hoặc sự xúc chạm với không khí nếu nơi đó không có vải che
 Begin with these superficial sensations, and gradually you will start to feel other ones as well  Bắt đầu bằng những cảm giác thô thiển này và dần dần quý vị sẽ cảm nhận được các cảm giác khác
 If the attention is fixed in one part of the body and a sensation starts in another, should one jum p back orforward to observe this other sensation?   Nếu ta đang chú tâm vào một nơi trên cơ thể và một cảm giác xuất hiện tại một chỗ khác, vậy ta có nên dời sự quan sát đến chỗ đó không?
No continue moving in order  Không nên, vẫn tiếp tục đi theo thứ tự
 Don’t try to stop the sensations in other parts of the body – you cannot do so –  but don’t give them any importance  Đừng cố loại bỏ cảm giác tại những chỗ khác trên cơ thể – quý vị không nên làm như thế – nhưng đừng coi chúng là quan trọng
 Observe each sensation only when you come to it, moving in order  Chỉ khi nào quí vị di chuyển đến đâu quí vị mới quan sát cảm giác ở chỗ đó,  Hãy di chuyển theo thứ tự
 Otherwise you will jump from one place to another, missing many parts of the body, obser­ ving only gross sensations  Nếu không, quý vị sẽ nhảy từ chỗ này sang chỗ khác, bỏ sót nhiều chỗ trên cơ thể và chỉ quan sát được những cảm giác thô thiển
 You have to train yourself to observe all the different sensations in every part of the body, gross or subtle, pleasant or unpleasant, distinct or feeble  Quý vị phải tập cho mình quan sát được những cảm giác khác nhau trên khắp cơ thể, thô thiển hay tinh tế, dễ chịu hay khó chịu, rõ rệt hay mơ hồ
 Therefore never allow the attention to jump from place to place  Do đó không bao giờ để sự chú tâm nhảy từ chỗ này sang chỗ khác
 How much time should one take to pass the attention from head to feet? This will vary according to the situation one faces  Cần thời gian bao lâu để di chuyển từ đầu tới chân?  Thời gian khác nhau tùy trường hợp
 The instruction is to fix your attention in a certain area, and as soon as you feel a sensation, to move ahead  Lời chỉ dẫn là chú tâm vào một vùng nào đó và ngay sau khi cảm nhận được cảm giác hãy di chuyển tiếp
 If the mind is sham enough, it will be aware of sensation as soon as it comes to an area, and you can move ahead at once  Nếu tâm đủ nhạy bén, tâm sẽ ý thức được cảm giác ngay khi tới một chỗ nào đó và quý vị có thể di chuyển tiếp ngay lập tức
 If this situation occurs throughout the body, it may be possible to move from head to feet in about ten minutes  Nếu trường hợp này xảy ra trên khắp cơ thể, ta có thể đi từ đầu tới chân trong khoảng mười phút
 but it is not advisable to move more quickly at this stage  Nhưng ta không nên di chuyển nhanh hơn trong giai đoạn này
 If the mind is dull, however, there may be many areas in which it is necessary to wait for up to a minute for a sensation to appear  Tuy nhiên, nếu tâm không được nhạy bén, nhiều nơi cần phải chờ tới một phút cho cảm giác xuất hiện
 In that case, it may take thirty minutes or an hour to move from head to feet  Trong trường hợp đó, có thể phải mất ba mươi phút hoặc một giờ để đi từ đầu xuống chân
 The time needed to make a round is not important  Thời gian cần thiết để di chuyển đủ một vòng không quan trọng
 Just keep working patiently, persistently  you will certainly be successful  Chỉ tiếp tục tu tập một cách kiên nhẫn, bền bỉ, chắc chắn quý vị sẽ thành công
 How big should the area be in which to fi x the attention?  Diện tích vùng chú tâm rộng khoảng bao nhiêu?
 Take a section of the body about two or three inches wide  Hãy chú tâm đến từng phần của cơ thể rộng khoảng năm hay bảy phân
 then move ahead another two or three inches, and so on  sau đó di chuyển tới năm hay bảy phân khác và tiếp tục như vậy
 If the mind is dull, take larger areas, for example, the entire face, or the entire right upper arm  Nếu tâm không đủ nhạy bén, lấy  một phần lớn hơn, ví dụ như cả khuôn mặt hay cả cánh tay
 then gradually try to reduce the area of attention  Sau đó cố thu hẹp dần diện tích vùng ta chú tâm
 Eventually you will be able to feel sensations in every particle of the body, but for now, an area of two or three inches is good enough  Cuối cùng quý vị sẽ có khả năng cảm nhận được cảm giác tại mọi nơi trên cơ thể,  Nhưng bây giờ thì một vùng khoảng năm tới bảy phân là tốt rồi
 Should one feel sensations only on the surface of the body or also in the interior?   Ta có nên chỉ chú ý tới những cảm giác trên bề mặt hay cả bên trong cơ thể?
Sometimes a meditator feels sensations  inside as soon as he starts Vipassana  Đôi khi thiền sinh cảm nhận được cảm giác ở bên trong cơ thể ngay khi bắt đầu thực hành Vipassana
 sometimes at first he feels sensations only on the surface  Có khi mới đầu thiền sinh chỉ cảm thấy cảm giác trên bề mặt
 Either way is perfectly all right  Cả hai đều hoàn toàn tốt
 If sensations appear only on the surface, observe them repeatedly until you feel sensation on every part of the surface of the body  Nếu cảm giác chỉ xuất hiện trên bề mặt, quan sát chúng nhiều lần cho tới khi quý vị cảm nhận được cảm giác trên toàn thân
 Having experienced sensations everywhere on the surface, you will later start penetrating into the interior  Sau khi đã cảm thấy cảm giác khắp mọi nơi ở bên ngoài, quý vị bắt đầu tiến sâu vào bên trong
 Gradually the mind will develop the ability to feel sensations everywhere, both outside and inside, in every part of the physical structure  Dần dần sẽ phát triển được khả năng cảm nhận được cảm giác ở mọi chỗ, cả bên trong lẫn bên ngoài, tại mọi nơi trong cơ cấu thân vật lý
 But to begin, superficial sensations are good enough  Nhưng để bắt đầu, những cảm giác ở bên ngoài cũng đủ tốt rồi
 The path leads through the entire sensory field, to the ultimate reality which is beyond sensory experience  Con đường luyện tập sẽ dẫn dắt qua khắp lãnh vực cảm giác, dẫn tới sự thật tối hậu vượt ra ngoài tầm cảm nhận của giác quan
 If you keep purifying your mind with the help of sensations, then certainly you will reach the ultimate stage  Nếu tiếp tục thanh lọc tâm với sự trợ giúp của cảm giác, chắc chắn quý vị sẽ đạt tới giai đoạn tối hậu
 When one is ignorant, sensations are a means to multiply one’s misery, because one reacts to them with craving or aversion  Khi ta còn vô minh, cảm giác là phương tiện làm gia tăng sự đau khổ bởi vì ta phản ứng lại cảm giác bằng sự thèm muốn và chán ghét
 The problem actually arises, the tension originates, at the level of bodily sensations  Khó khăn thực sự nảy sinh, căng thẳng khởi đầu ở mức độ của những cảm giác trên thân
 therefore this is the level at which one must work to solve the problem, to change the habit pattern of the mind  Do đó, đây là nơi ta phải luyện tập để giải quyết khó khăn, để thay đổi khuôn mẫu thói quen của tâm
 One must learn to be aware of all the different sensations without reacting to them, accepting their changing, impersonal nature  Ta phải học để ý thức được những cảm giác khác nhau mà không phản ứng lại chúng, chấp nhận bản tánh hay đổi thay và vô ngã của cảm giác
 By doing so, one comes out of the habit of blind reaction, one liberates  oneself from misery  Nhờ vậy, ta thoát khỏi thói quen phản ứng mù quáng, tự giải thoát mình khỏi những đau khổ
 What is a sensation?   Cảm giác là gì?
Anything that one feels at the physical level is a sensation – any natural, normal, ordinary bodily sensation, whether pleasant or unpleasant, whether gross or subtle, whether intense or feeble  Bất cứ những gì ta cảm nhận được trên thân là cảm giác – bất cứ cảm giác tự nhiên, bình thường, thông thường nào trên thân, cho dù dễ chịu hay khó chịu, cho dù thô thiển hay tinh tế, mạnh hay yếu
 Never ignore a sensation on the grounds that it is caused by atmospheric conditions, or by sitting for long hours, or by an old disease  Không bao giờ nên bỏ qua một cảm giác nào vì cho đó là do làn không khí gây ra hoặc vì ngồi lâu, hoặc do một bệnh tật cũ
 Whatever the reason, the fact is that you feel a sensation  Dù với bất cứ lý do nào, sự thật là quý vị cảm thấy một cảm giác
 Previously you tried to push out the unpleasant sensations, to pull in the pleasant ones  Trước đây quý vị cố xua đuổi những cảm giác khó chịu, và níu giữ những cảm giác dễ chịu
 Now you simply observe objectively, without identifying with the sensations  Bây giờ quý vị chỉ quan sát một cách khách quan, không đồng hóa mình với những cảm giác
 It is a choiceless observation  Đó là sự quan sát không lựa chọn
 Never try to select sensations  Đừng bao giờ cố chọn lựa cảm giác
 instead, accept whatever arises naturally  trái lại, hãy chấp nhận những gì nảy sinh một cách tự nhiên
 If you start looking for something in particular, something extraordinary, you will create difficulties for yourself, and will not be able to progress on the path  Nếu quý vị bắt đầu tìm kiếm một cảm giác đặc biệt nào đó, một cảm giác khác thường, quý vị sẽ tạo ra khó khăn cho chính  mình, và sẽ không tiến bộ được trên con đường tu tập
 The technique is not to experience something special, but rather to remain equanimous in the face of any sensation  Phương pháp không phải là để cảm nghiệm được những gì đặc biệt mà cốt để giữ được tâm quân bình khi cảm nhận bất cứ cảm giác nào
 In the past you had similar sensations in your body, but you were not aware of them consciously, and you reacted to them  Trong quá khứ, quý vị đã gặp phải các cảm giác tương tự trên thân, nhưng quý vị chưa ý thức được và phản ứng lại chúng
 Now you are learning to be  aware and not to react, to feel whatever is happening at the physical level and to maintain equanimity  Bây giờ quý vị đang học cách để nhận biết và không phản ứng lại, tập ý thức về bất cứ cảm giác nào đang xảy ra trên cơ thể và giữ được sự bình tâm
 If you work in this way, gradually the entire law of nature will become clear to you  Nếu thực hành theo cách này, dần dần toàn bộ luật tự nhiên sẽ trở nên rõ ràng đối với quý vị
 This is what Dhamma means: nature, law, truth  Đây là ý nghĩa của Dhamma: luật tự nhiên, định luật, sự thật
 To understand truth at the experiential level, one must investigate it within the framework of the body  Để hiểu được sự thật ở mức độ thực nghiệm, ta phải tìm hiểu sự thật trong khuôn khổ của tấm thân này
 This is what Siddhattha Gotama did to become a Buddha, and it became clear to him, and will become clear to anyone who works as he did, that throughout the universe, within the body as well as outside it, everything keeps changing  Đây là những gì Thái tử Siddhattha Gotama đã làm để trở thành Phật, và sự thật này đã trở nên rõ ràng đối với Ngài, và cũng sẽ trở nên rõ ràng đối với bất cứ ai luyện tập như Ngài, đó là trong khắp vũ trụ, trong thân cũng như ngoài thân, vạn vật đều thay đổi không ngừng
 Nothing is a final product,  everything is involved in the process of becoming  –  bhava   Không có gì là sản phẩm cuối cùng, vạn vật đều ở trong tiến trình sinh thành – bhava
 And another reality will become clear: nothing happens accidentally  Và một sự thực khác cũng sẽ trở nên rõ ràng là không một việc gì xảy ra một cách ngẫu nhiên
 Every change has a cause which produces an effect, and that effect in turn becomes the cause for a further change, making an endless chain of cause and effect  Mỗi một thay đổi đều có một nguyên nhân đưa đến một hậu quả và hậu quả đó sẽ trở thành nguyên nhân cho sự thay đổi kế tiếp, tạo thành một chuỗi nhân quả vô tận
 And still another law will become clear: as the cause is, so the effect will be  as the seed is, so the fruit will be  Và một định luật khác cũng sẽ trở nên rõ ràng: nguyên nhân thế nào thì hậu quả sẽ thế ấy, hạt giống nào sẽ cho quả nấy
 On the same soil one sows two seeds, one of sugarcane, the other of neem  –  a very bitter tropical tree  Trên cùng một mảnh đất ta gieo hai loại giống: một là giống cây mía, giống kia là cây neem – một loại cây rất đắng vùng nhiệt đới
 From the seed of sugarcane develops a plant that is sweet in every fibre, from the seed of neem, a plant that is bitter in every fibre  Từ giống cây mía sẽ có một cây mía ngọt ngào, từ hạt cây neem sẽ thành một cây rất đắng
 One may ask why nature is kind to one plant and cruel to the other  Ta có thể hỏi, tại sao thiên nhiên lại tử tế với cây này mà tàn nhẫn với cây kia
 In fact nature is neither kind nor cruel:  it works according to set rules:  Nature merely helps the quality of each seed to manifest   Thật ra thiên nhiên không tử tế mà cũng không tàn nhẫn: thiên nhiên vận hành theo những quy luật nhất định: chỉ đơn thuần giúp cho phẩm chất của mỗi hạt giống hiển lộ
If one sows seeds of sweetness, the harvest will be sweetness  Nếu ta gieo hạt giống ngọt, tới mùa sẽ gặt được những quả ngọt
 If one sows seeds of bitterness, the harvest will be bitterness  Nếu ta gieo hạt giống cay đắng, ta sẽ gặt được cay đắng
 As the seed is, so the fruit will be  Nhân nào quả nấy
 as the action is, so the result will be  Hành động như thế nào hậu quả sẽ như thế ấy
 The problem is that one is very alert at harvest time, wanting to receive sweet fruit, but during the sowing season one is very heedless, and plants seeds of bitterness  Vấn đề là ở chỗ ta chỉ để ý tới lúc gặt hái, muốn có quả ngọt, nhưng trong lúc gieo hạt ta rất bất cẩn, gieo toàn hạt đắng
 If one wants sweet fruit, one should plant the proper type of seeds  Nếu ta muốn quả ngọt ta phải gieo loại giống ngọt
 Praying or hoping for a miracle is merely self-deception,  one must understand and live according to the law of nature  Cầu xin hoặc trông mong một phép lạ chỉ để lừa dối mình, ta phải hiểu và sống theo luật tự nhiên
 One must be careful about one’s actions, because these are the seeds in accordance with the quality of which one will receive sweetness or bitterness  Ta phải cẩn thận về những hành động của mình, bởi vì đây là những hạt giống mà tùy theo tính chất của chúng ta sẽ nhận được quả ngọt ngào hay đắng cay
 There are three types of action: physical, vocal and mental,   Có ba loại hành động: việc làm, lời nói và ý nghĩ
One who learns to observe oneself quickly realizes that mental action is the most important, because this is the seed, the action that will give results  Người biết cách quan sát chính mình sớm nhận ra rằng hành động bằng ý nghĩ là quan trọng nhất, bởi vì đây là hạt giống, là hành động sẽ gây ra hậu quả
 Vocal and physical actions are merely projections of the mental action, yardsticks to measure its intensity  Hành động bằng lời nói hoặc việc làm chỉ là sự  phản ảnh của ý nghĩ, là một thước đo cường độ của ý nghĩ mà thôi
 They originate as  mental action, and this mental action subsequently manifests at the vocal or physical level  Chúng bắt nguồn từ ý nghĩ và cuối cùng thể hiện qua những hành động bằng lời nói hoặc việc làm
 Hence the Buddha declared:  Do đó Đức Phật đã nói:
 Mind precedes all phenomena,  Tâm dẫn đầu mọi hiện tượng,
 mind matters most, everything is mind-made  tâm làm chủ tất cả, mọi việc đều do tâm tạo
 If with an impure mind  Nếu với một tâm bất tịnh,
 you speak or act,  ta nói và làm
 then suffering follows you  đau khổ liền theo sau
 as the cartwheel follows the foot of the draft animal  như bánh xe lăn theo con vật kéo xe
 If with a pure mind  Nếu với một tâm thanh tịnh,
 you speak or act,  ta nói và làm
 then happiness follows you  as a shadow that never departs  hạnh phúc liền theo sau như bóng không rời hình
 If this is the case, then one must know what is the mind and how it works  Nếu đúng như vậy, ta phải biết tâm là gì và tâm hoạt động như thế nào
 You have started investigating this phenomenon by your practice  Quý vị đã bắt đầu tìm hiểu vấn đề này bằng sự thực hành của mình
 As you proceed, it will become clear that there are four major segments or aggregates of the mind  Khi thực hành, quý vị sẽ thấy rõ là tâm gồm bốn thành phần chính hay bốn tập hợp chính
 The first segment is called vinncfna, which may be translated as consciousness  Thành phần thứ nhất là vinnana, có thể dịch là thức hay là sự hay biết
 The sense organs are lifeless unless consciousness comes into contact with them  Các giác quan sẽ không sống động nếu thức không tiếp xúc với chúng
 For example, if one is engrossed in a vision, a sound may come and one will not hear it, because all one’s consciousness is with the eyes  Ví dụ, nếu ta chú tâm vào việc nhìn, nếu có âm thanh tới tai ta sẽ không nghe thấy bởi vì toàn bộ thức đang tập trung ở nơi mắt
 The function of this part of the mind is to cognize, simply to know, without differentiating  Chức năng này của tâm là để biết, chỉ hay biết mà không phân biệt
 A sound comes into contact with the ear, and the vinnana notes only the fact  that a sound has come  Một âm thanh đến tiếp xúc với tai thì vinnana chỉ ghi nhận một sự kiện là một âm thanh đã đến
 Then the next part of the mind starts working: sanna, perception Rồi phần kế tiếp của tâm bắt đầu hoạt động: sanna, tưởng, sự nhận định
 A sound has come, and from one’s past experience and m em ories, one recognizes it: a sound   Một âm thanh đến, và do kinh nghiệm hay trí nhớ, ta nhận định được: âm thanh
words   lời nói
words of praise  lời khen
good  tốt
 or else, a sound  hoặc trái lại, một âm thanh
words  lời nói
words of abuse  lời chê bai
bad  xấu
 One gives an evaluation of good or bad, according to one’s past  experience  Ta nhận định sự việc là tốt hay xấu, tùy theo kinh nghiệm trong quá khứ của mình
 A t once the third part of the mind starts working: vedana, sensation  Liền lập tức phần thứ ba của tâm bắt đầu hoạt động: vedana, cảm thọ
 As soon as a sound comes, there is a sensation on the body, but when the perception recognizes it and gives it a valuation, the sensation becomes pleasant or unpleasant, in accordance with that valuation  Ngay khi âm thanh đến tai liền có một cảm giác xuất hiện trong người, nhưng khi phần “nhận định” nhận diện và đánh giá âm thanh đó, cảm giác trở nên dễ chịu hoặc khó chịu
 For example: a sound has come  Ví dụ: một âm thanh đã tới
words  tiếng nói
words of praise  tiếng khen
good –   tốt
and one feels a pleasant sensation throughout the body  và ta cảm thấy một cảm giác dễ chịu trong người
 Or else a sound has come  Trái lại, một âm thanh đến
words  tiếng nói
words of  abuse  tiếng chê
bad – andone feels an unpleasant sensation throughout the body  xấu – và ta cảm thấy một cảm giác khó chịu trong người
 Sensations arise on the body, and are felt by the mind,  this is the function called vedana  Cảm giác phát sinh trong người, và tâm cảm nhận được: chức năng này được gọi là vedana
 Then the fourth part of the mind starts working: sankhara, reaction  Rồi phần thứ tư của tâm bắt đầu làm việc: sankhara, hành, phản ứng, tạo nghiệp
 A sound has come   Một âm thanh tới
words   tiếng nói
words of praise   tiếng khen
 good  tốt
pleasant sensation –   cảm giác dễ chịu
and one starts liking it: “This praise is wonderfu l! I want more !” Or else: a sound has come   và ta bắt đầu ưa thích: “Lời khen thật tuyệt vời! Tôi muốn được khen nữa!” Ngược lại, một âm thanh tới
 words  tiếng nói
words of abuse  tiếng chê
bad  xấu
unpleasant sensation –  and one starts disliking it: | can’t bear this abuse, stop it !”l  cảm giác khó chịu – và ta bắt đầu không thích: “Tôi không thể chịu được lời chê này, hãy ngừng lại!” 
 sense doors, the same process occurs –  eyes, ears, nose, tongue, body Tại mỗi cửa ngõ giác quan – mắt, tai, mũi, lưỡi, thân – tiến trình tương tự xảy ra
 Similarly, when a thought or imagination comes into contact with the mind, in the same way a sensation arises on the body, pleasant or unpleasant, and one starts reacting with liking or disliking  Tương tự, khi một ý nghĩ hay một sự tưởng tượng tới tiếp xúc với tâm, với cùng một tiến trình, một cảm giác nảy sinh trong người, dễ chịu hay khó chịu, và ta phản ứng bằng thái độ thích hoặc không thích
 This momentary liking develops into great craving  Sự ưa thích trong khoảnh khắc này biến thành ham muốn mãnh liệt
 this disliking develops into great aversion  sự khó chịu này biến thành ghét bỏ cao độ
 One starts tying knots inside  Ta bắt đầu thắt những nút rối trong lòng
 Here is the real seed that gives fruit, the action that will have results: the sankhara, the mental reaction  Đây chính thực là nhân sinh ra quả, hành động đưa đến hậu quả: sankhara, sự phản ứng bằng ý tưởng
 Every moment one keeps sowing this seed, keeps reacting with liking or disliking, craving or aversion, and by doing so makes oneself miserable  Từng giây phút ta không ngừng gieo loại nhân này, không ngừng tạo nghiệp bằng thích hoặc không thích, thèm muốn hoặc chán ghétt và làm cho ta khổ
 There are reactions that make a very light impression, and are eradicated almost immediately, those that make a slightly deeper impression and are eradicated after a little time, and those that make a very deep impression, and take a very long time to be eradicated  Có những phản ứng gây ra ấn tượng rất nhẹ, và biến mất ngay lập tức,  Có những phản ứng gây ấn tượng sâu đậm hơn và biến mất sau một thời gian ngắn, và có những phản ứng gây ấn tượng rất sâu đậm phải cần một thời gian rất lâu mới xoá hết
 At the end of a day, if one tries to remember all the sankhara that one has generated, one will be able to recall only the one or two that made the deepest impression during that day  Cuối ngày, nếu ta thử nhớ lại những sankhara ta đã làm trong ngày, ta chỉ có thể nhớ được một hay hai sankhara gây ấn tượng sâu đậm nhất
 In the same way, at the end of a month or of a year, one will be able to recall only the one or two sankhara that made the deepest impression during that time  Tương tự như vậy, vào cuối tháng hay cuối năm, ta cũng chỉ nhớ được một hay hai sankhara gây ấn tượng sâu đậm nhất trong khoảng thời gian đó
 And like it or not, at the end of life, whatever sankhara has made the strongest impression is bound to come up in the mind,  and the next life will begin with a mind of the same nature, having the same qualities of sweetness or bitterness  Và dù muốn dù không, vào cuối cuộc đời, sankhara nào gây ấn tượng sâu đậm nhất chắc chắn sẽ hiện lên trong tâm, và cuộc đời kế tiếp sẽ bắt đầu bằng cái tâm này, có cùng những đặc tính ngọt ngào hay cay đắng
 We create our own future, by our actions  Chúng ta tạo ra tương lai của chúng ta bằng chính hành động của mình
 Vipassana teaches the art of dying: how to die peacefully, harmoniously  Vipassana dạy nghệ thuật chết: làm sao để chết một cách bình an, yên lành
 And one learns the art of dying by learning the art of living: how to become master of the present moment, how not to generate a sankhara at this moment, how to live a happy life here and now  Và ta học nghệ thuật chết bằng cách học nghệ thuật sống: làm sao để làm chủ được giây phút hiện tại, làm sao không tạo nghiệp trong giây phút này, làm sao để sống một cuộc đời hạnh phúc ngay bây giờ và ngay tại đây
 If the present is good, one need not worry about the future, which is merely a product of the present, and therefore bound to be good  Nếu hiện tại tốt, ta không cần phải bận tâm về tương lai vì nó chỉ là sản phẩm của hiện tại, do đó đương nhiên phải tốt
 There are two aspects of the technique:  Có hai phương diện của phương pháp thiền này:
 The first is breaking the barrier between the conscious and unconscious levels of the mind  Thứ nhất là phá bỏ hàng rào ngăn cách giữa hai tầng ý thức và vô thức của tâm
 Usually the conscious mind knows nothing of what is being experienced by the unconscious  Thông thường, tâm ý thức không biết những gì do tâm vô thức cảm nhận được
 Hidden by this ignorance, reactions keep occurring at the unconscious level  Bị vô minh che lấp, phản ứng tiếp tục xảy ra ở tầng vô thức
 by the time they reach the conscious level, they have become so intense that they easily overpower the mind  khi chúng đã vào, trồi lên tầng ý,  thức chúng trở nên quá mạnh nên chúng chế ngự tâm một cách dễ dàng
 By this technique, the entire mass of the mind becomes conscious, aware  Bằng phương pháp này, toàn thể tâm trí trở thành có nhận thức và ý thức,
 the ignorance is removed  vô minh bị diệt trừ
 The second aspect of the technique is equanimity  Phương diện thứ hai của phương pháp là sự bình tâm
 One is aware of all that one experiences, of every sensation, but does not react, does not tie new knots of craving or aversion, does not create misery for oneself  Ta ý thức được những gì ta cảm thấy, tất cả mọi cảm thọ, nhưng không phản ứng, không thắt những nút rối bằng thèm muốn hoặc chán ghét, không tạo ra đau khổ cho chính mình
 To begin, while you sit for meditation, most of the time you will react to the sensations, but a few moments will come when you remain equanimous, despite severe pain  Mới đầu, trong lúc ngồi thiền, hầu hết thời gian quý vị thường phản ứng lại các cảm giác, nhưng có vài lúc quý vị giữ được sự bình tâm, mặc dù rất đau nhức
 Such moments are very powerful in changing the habit pattern of the mind  Những giây phút như vậy có ảnh hưởng rất mạnh mẽ trong việc thay đổi khuôn mẫu thói quen của tâm
 Gradually you will reach the stage in which you can smile at any sensation, knowing it is anicca, bound to pass away  Dần dần quý vị sẽ đạt tới trình độ có thể mỉm cười với bất cứ cảm giác nào, biết rằng nó là anicca, vô thường, chắc chắn sẽ qua đi
 To achieve this stage, you have to work yourself  Để đạt đuợc trình độ này, quý vị phải tự mình luyện tập
 no-one else can work for you  không ai có thể làm thay cho mình
 It is good that you have taken the first step on the path  Điều rất tốt là quý vị đã bước những bước đầu tiên trên con đường thực tập
 now keep walking, step by step, towards your own liberation  bây giờ cứ tiếp tục, từng bước một, tiến tới sự giải thoát cho chính mình
 May all of you enjoy real happiness  Nguyện cho quý vị hưởng được hạnh phúc chân thật
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY FIVE DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ NĂM
 The Four Noble Truths: suffering, the cause of suffering,  the eradication of suffering, the way to eradicate  Bốn Sự Thật Thánh Thiện: khổ, nguồn gốc của khổ, hết khổ, con đường diệt khổ –
 suffering the chain of conditioned arising  Chuỗi Nhân Duyên Sinh
 Five days are over  Ngày thứ năm đã qua
 you have five more left to work  quý vị còn năm ngày nữa để luyện tập
 Make best use of the remaining days by working hard, with proper understanding of the technique  Hãy tận dụng những ngày còn lại bằng cách luyện tập một cách nhiệt thành với sự hiểu biết đúng đắn về phương pháp
 From observing respiration within a limited area, you have proceeded to observing sensations throughout the body  Bằng cách quan sát hơi thở trong một phạm vi giới hạn, quý vị đã tiến tới quan sát cảm giác trên khắp người
 When one begins this practice it is very likely that one will fi rst encounter gross, solidified, intensified, unpleasant sensations such as pain, pressure, etc  Khi bắt đầu cách tu tập này, ta có thể gặp phải những cảm giác thô thiển, chắc đặc, nặng nề, khó chịu như đau nhức, đè ép,
 You had encountered such experiences in the past, but the habit pattern of your mind was to react to sensations, to roll in pleasure and reel in pain, remaining always agitated  Quý vị đã gặp những cảm giác như thế trong quá khứ, nhưng khuôn mẫu thói quen của tâm là phản ứng lại chúng, chìm đắm trong khoái lạc hoặc quay cuồng trong đau khổ, luôn luôn bị giao động
 Now you are learning howto observe without reacting, to examine the sensations objectively, without identifying with them  Bây giờ quý vị đang học cách để quan sát mà không phản ứng, khảo sát cảm giác một cách khách quan, không đồng hóa mình với chúng
 Pain exists, misery exists  Đau đớn hiện hữu, khổ sở hiện hữu
 Crying will not free anyone of misery  Than khóc sẽ không làm ai hết khổ
 How is one to come out of it? How is one to live with it?  Làm sao ta có thể thoát khỏi đau khổ? Làm sao ta có thể sống với đau khổ?
 A doctor treating a sick person must know what the sickness is, and what the fundamental cause of the sickness is  Một bác sĩ chữa một bệnh nhân phải biết bệnh đó là bệnh gì, và nguyên nhân chính gây ra bệnh này
 If there is a cause, then there must be a way out, by removing the cause  Nếu có một nguyên nhân thì phải có cách chữa khỏi bệnh bằng cách diệt trừ nguyên nhân ấy
 Once the cause is removed, the sickness will automatically be removed  Khi nguyên nhân bị diệt trừ, đương nhiên bệnh sẽ chấm dứt
 Therefore steps must be taken to eradicate the cause  Do đó diệt trừ nguyên nhân là việc cần phải làm
 First one must accept the fact of suffering  Trước tiên ta phải chấp nhận sự thật về khổ
 Everywhere suffering exists  Khổ hiện diện khắp nơi
 this is a universal truth  đây là sự thật phổ quát
 But it becomes a noble truth when one starts observing it without reacting, because anyone who does so is bound to become a noble, saintly person  Nhưng nó trở thành một sự thật thánh thiện khi ta bắt đầu quan sát nó mà không phản ứng, bởi vì người nào làm được như vậy, đương nhiên sẽ trở thành một người cao quý, thánh thiện
 When one starts observing the First Noble Truth, the truth of suffering, then very quickly the cause of suffering becomes clear, and one starts observing it also  Khi ta bắt đầu quan sát Sự Thật Thứ Nhất, sự thật về khổ, thì nguyên nhân của khổ trở nên rõ ràng, và ta cũng bắt đầu quan sát nguyên nhân
 this is the Second Noble Truth  đây là Sự Thật Thứ Hai
 If the cause is eradicated, then suffering is eradicated  Nếu  nguyên nhân bị diệt trừ, thì khổ bị diệt trừ
 this is the Third Noble Truth  –  the eradication of suffering  đây là Sự Thật Thứ Ba – hết khổ
 To achieve its  eradication one must take steps  Muốn hết khổ ta phải luyện tập
 this is the Fourth Noble Truth – the way to end suffering by eradicating its cause  đây là Sự Thật Thứ Tư – đường lối diệt khổ bằng cách diệt trừ nguyên nhân của khổ
 One begins by learning to observe without reacting  Ta bắt đầu bằng cách học cách quan sát mà không phản ứng
 Examine the pain that you experience objectively, as if it is someone else’s pain  Khảo sát sự đau nhức mà quý vị gặp phải một cách khách quan, như thể đó là sự đau nhức của người khác
 Inspect it like a scientist who observes an experiment in his laboratory  Hãy xem xét nó như một nhà khoa học quan sát một đối tượng trong phòng thí nghiệm
 When you fail, try again  Khi quý vị thất bại, làm lại một lần nữa
 Keep trying, and you will find that gradually you are coming out of suffering  Cứ tiếp tục tu tập, và quý vị sẽ nhận ra rằng dần dần mình đang thoát ra khỏi đau khổ
 Every living being suffers  Mọi người đều khổ
 Life starts with crying  Cuộc đời bắt đầu bằng tiếng kíhóc
 birth is a great suffering  sinh ra đời là một nỗi khổ lớn
 And anyone who has been bom is bound to encounter the sufferings of sickness and old age  Và đã sinh ra đời chắc chắn sẽ bị khổ vì bệnh tật, vì già yếu
 But no matter how miserable one’s life may be, nobody wants to die, because death is a great  suffering  Nhưng mặc dù cuộc đời có khổ đến đâu đi nữa, không một ai muốn chết, bởi vì chết là một nỗi khổ lớn
 Throughout life, one encounters things that one does not like, and is separated from things that one likes  Trong suốt cuộc đời, ta gặp phải những điều không vừa ý, và bị chia lìa những điều ta yêu thích
 Unwanted things happen, wanted things do not happen, and one feels miserable  Những điều không muốn lại gặp phải, những điều mong muốn lại không đạt được, và ta cảm thấy khổ
Simply understanding this reality at the intellectual level will not liberate anyone  Chỉ hiểu sự thật này trên mức độ lý trí sẽ không giải thoát được ai
 It can only give inspiration to look within oneself, in order to experience truth and to find the way out of misery  Nó chỉ có thể khích lệ để ta xem xét bên trong chính mình, để chứng nghiệm được sự thật và tìm cách để thoát khổ
 This is what Siddhattha Gotama did to become a Buddha: he started observing reality within the framework of his body like a research scientist, moving from gross, apparent truth to subtler truth, to the subtlest truth  Đây là những gì Thái tử Siddhattha Gotama đã làm để trở thành Phật: Ngài bắt đầu quan sát thực tại bên trong cơ cấu thân thể Ngài như một nhà khảo cứu, đi từ sự thật thô thiển, dễ cảm nhận, tới sự thật tinh tế hơn, tới sự thật tinh tế nhất
 He found that whenever one develops craving, whether to keep a pleasant sensation or to get rid of an unpleasant one, and that craving is not fulfilled, then one starts suffering  Ngài khám phá ra rằng khi sinh lòng thèm muốn, ta thường có xu hướng muốn giữ lại cảm giác dễ chịu và loại bỏ những cảm giác khó chịu  Khi hai điều này không được thỏa mãn, ta trở nên khổ
 And going further, at the subtlest level, he found that when seen with a fully collected mind, it is clear that attachment to the five aggregates is suffering  Và đi sâu hơn nữa, ở tầng lớp tinh tế nhất, khi quan sát với sự chú tâm tột đỉnh, Ngài nhận thấy rằng sự ràng buộc vào năm tập hợp (Sắc, Thức, Tưởng, Thọ, Hành) là khổ
 Intellectually one may understand that the material aggregate, the body, is no t ‘I’, no t ‘m ine’, b u t m erely an impersonal, changing phenomenon which is beyond one’s control  Trên lý thuyết ta có thể hiểu rằng Sắc- cái tập hợp vật chất, thân thể không phải là “Ta”, không phải là “Của Ta”, mà chỉ là một hiện tượng vô ngã, luôn thay đổi, bên ngoài sự kiểm soát của ta
 actually, however, one identifies with the body, and develops tremendous attachment to it  tuy nhiên, trên thực tế, ta tự đồng hóa mình với nó và tạo ra sự ràng buộc ghê gớm vào nó
 Similarly one develops attachment to the four mental aggregates of consciousness, perception, sensation, reaction, and clings to them as ‘I, mine’ despite their constantly changing nature  Tương tự, ta bị ràng buộc vào bốn tập hợp của tâm là (Thức sự hay biết, Tưởng sự nhận định, Thọ cảm giác – cảm xúc, Hành sự phản ứng, và bám víu vào chúng, coi chúng là “Ta, Của Ta” bất chấp trạng thái thay đổi không ngừng của chúng
 For conventional purposes one must use the words   and ‘mine’, but when one develops attachment to the five aggregates, one creates suffering for oneself  Vì mục đích tiện lợi, ta phải dùng từ ngữ như “Tôi” và “Của Tôi”, nhưng khi ta bị ràng buộc vào năm tập hợp này, ta tạo ra đau khổ cho mình
 Wherever there is attachment, there is bound to be misery, and the greater the  attachment, the greater the misery  Ở đâu có ràng buộc, ở đó đương nhiên có khổ, và ràng buộc càng nhiều chừng nào thì càng khổ nhiều chừng ấy
 There are four types of attachment that one keeps developing in life  Có bốn loại ràng buộc, bám víu mà ta luôn luôn tạo ra trong đời
 The first is attachment to one’s desires, to the habit of craving  Thứ nhất là ràng buộc vào dục vọng, vào thói quen thèm muốn của mình
 Whenever craving arises in the mind, it is accompanied by a physical sensation  Khi nào thèm muốn nảy sinh trong tâm, liền có một cảm giác trong người nảy sinh theo
 Although at a deep level a storm of agitation has begun, at a superficial level one likes the sensation and wishes it to continue  Mặc dầu ở tầng lớp sâu hơn một trận bão giao động đã bắt đầu, nhưng ở tầng lớp bên ngoài ta ưa thích những cảm giác này và muốn chúng tiếp tục hiện hữu
 This can be compared with scratching a sore: doing so will only aggravate it, and yet one enjoys the sensation of scratching  Đây có thể so sánh với việc gãi chỗ ngứa: gãi chỉ làm cho ngứa thêm, nhưng ta vẫn thích cảm giác lúc gãi
 In the same way, as soon as a desire is fulfilled, the sensation that accompanied the desire is also gone, and so one generates a fresh desire in order that the sensation may continue  Cũng như vậy, ngay sau khi sự thèm muốn được thỏa mãn, cảm giác đi kèm theo nó cũng hết, và ta tạo ra sự thèm muốn mới để hy vọng cảm giác này tiếp tục diễn ra
 One becomes addicted to craving and multiplies one’s misery  Ta trở nên nghiện sự thèm muốn và làm gia tăng bội phần nỗi đau khổ của mình
 Another attachment is the clinging to ‘I, mine’, without knowing  what this really is  Một ràng buộc khác là bám víu vào cái “Ta”, “của Ta” mà không biết cái “Ta” là gì
 One cannot bear any criticism of one’s o r any harm to it  Ta không thể chịu được bất cứ một sự chỉ trích hoặc sự xúc phạm nào vào cái “Ta” của mình
 And the attachment spreads to include whatever belongs to ‘I’, whatever is ‘mine’  Và sự ràng buộc mở rộng tới những gì thuộc về “Ta”, những gì “của Ta”
 This attachment would not bring misery if whatever is ‘mine’ could continue eternally, and the ‘I’ also could remain to enjoy it eternally, but the law of nature is that sooner or later one or the other must pass away  Sự ràng buộc này sẽ không mang lại khổ nếu những gì “của Ta” có thể tồn tại đời đời, và cái “Ta” có thể trường tồn vĩnh cửu để hưởng thụ  Nhưng theo luật tự nhiên, không sớm thì muộn, “Ta” và “của Ta” sẽ mất đi
 Attachment to what is impermanent is bound to bring misery  Ràng buộc, bám víu vào những gì vô thường chắc chắn mang lại đau khổ
 Similarly, one develops attachment to one’s views and beliefs, and cannot bear any criticism of them, or even accept that others may have differing views  Tương tự, ta bị ràng buộc, bám víu vào quan điểm, vào đức tin của mình, và không thể chịu được bất cứ sự chỉ trích nào, hoặc ngay cả việc chấp nhận người khác có thể có những quan niệm khác với mình
 One does not understand that everyone wears coloured glasses, a different colour for each person  Ta không hiểu được rằng mọi người đều mang những cặp kính màu, mỗi người một màu khác nhau
 By removing the glasses, one can see reality as it is, untinted, but instead one remains attached to the colour of one’s glasses, to one’s own preconceptions and beliefs  Chỉ cần tháo kính ra, ta có thể thấy thực tại đúng như thật, không bị nhuộm màu  Thế nhưng trên thực tế, ta vẫn bị ràng buộc vào màu sắc của cặp kính của mình, ràng buộc vào những thành kiến và lòng tin của mình
 Yet another attachment is the clinging to one’s rites, rituals, and religious practices  Còn một ràng buộc khác nữa là bám víu vào nghi thức, nghi lễ, giáo điều
 One fails to understand that these are all merely outward shows, that they do not contain the essence of truth  Ta không chịu hiểu rằng, đây chỉ là những hình thức phô diễn bên ngoài, chúng không chứa đựng tinh túy của sự thật
 If someone is shown the way to experience truth directly within him self but continues to cling to empty external forms, this attachment produces a tug-of-war in such a person, resulting in misery  Nếu ai được chỉ cách để tự chứng nghiệm được sự thật ngay trong chính mình nhưng vẫn tiếp tục bám víu vào những hình thức trống rỗng bên ngoài, sự ràng buộc này đưa đến tình trạng giằng co luẩn quẩn, không tiến cũng không lùi, kết quả là đưa đến khổ
 All the sufferings of life, if examined closely, will be seen to arise from one or another of these four attachments  Nếu xem xét một cách kỹ lưỡng, ta thấy mọi khổ đau trên đời đều nảy sinh từ một trong bốn sự ràng buộc, bám víu này
 In his search for truth, this is what Siddhattha Gotama found  Đây là những gì Thái tử Siddhattha Gotama tìm thấy trong lúc đi tìm kiếm sự thật
 Yet he continued investigating within himself to discover the deepest cause of suffering, to understand how the entire phenomenon works, to trace it to its source  Tuy nhiên, Ngài vẫn tìm hiểu trong chính Ngài để tìm ra nguyên nhân sâu xa của khổ, để hiểu được toàn thể tiến trình hoạt động ra sao, để tìm tới cội nguồn của vấn đề
 Obviously the sufferings of life –  disease, old age, death, physical and mental pain – are inevitable consequences of being born  Rõ ràng những khổ đau trên đời – bệnh tật, già yếu, chết chóc, đau đớn thể xác và tinh thần – là hậu quả đương nhiên khi sinh ra làm người
 Then what is the reason for birth? Of course the immediate  cause is the physical union of parents, but in a broader perspective, birth occurs because of the endless process of becoming in which the entire universe is involved  Thế thì sinh ra đời là do nguyên nhân nào? Dĩ nhiên nguyên nhân trực tiếp là sự kết hợp của cha mẹ, nhưng dưới một cách nhìn bao quát hơn, sự sinh ra đời xảy ra vì một tiến trình bất tận của sự sinh thành liên quan đến toàn thể vũ trụ
 Even at the time of death the process does not stop: the body continues decaying, disintegrating, while the consciousness becomes connected with another material structure, and continues flowing, becoming  Ngay cả lúc chết, tiến trình này cũng không chấm dứt: thân xác tiếp tục hủy hoại, tan rã, trong khi đó thần thức đã nhập vào một cấu trúc vật chất khác, và tiếp tục trôi chảy, thành hình
 And why this process of becoming? It was clear to him that the cause is the attachment that one develops  Tại sao lại có sự sinh thành này  Ngài thấy rõ đó là vì ta tạo ra bám víu, ràng buộc
 Out of attachment one generates strong reactions, sankhara, which make a deep impression on the mind  Từ chỗ bám víu ta sinh ra phản ứng mạnh mẽ, sankhara (tạo nghiệp), gây ra một ấn tượng sâu đậm trong tâm
 At the end of life, one of these will arise in the mind and will give a push to the flow of consciousness to continue  Vào cuối cuộc đời, một trong những ấn tượng này sẽ nổi lên trong tâm và xô đẩy dòng tâm thức trôi chảy tiếp
 Now what is the cause of this attachment? He found that it arises because of the momentary reactions of liking and disliking –  Liking develops into great craving  Giờ hãy tìm hiểu nguyên nhân của ràng buộc, bám víu là gì? Ngài phát hiện nó nảy sinh vì những phản ứng trong từng khoảnh khắc bằng sự thích và không thích
 disliking into great aversion, the mirror image of Craving, and both turn into attachment  Thích sẽ biến thành nhiều thèm muốn –  không thích sẽ biến thành nhiều chán ghét, một phản ảnh của thèm muốn, và cả hai biến thành bám víu, ràng buộc
 And why these momentary reactions of liking and disliking? Anyone who observes himself will find that they occur because of bodily sensations  Và tại sao lại có những phản ứng nhất thời của sự thích và không thích?  Bất cứ ai tự quan sát mình sẽ nhận thấy rằng nó xảy ra vì những cảm giác trong người
 Whenever a pleasant sensation arises, one likes it and wants to retain and multiply it  Khi nào có cảm giác dễ chịu nảy sinh, ta thích nó và muốn nó gia tăng gấp bội
 Whenever an unpleasant sensation arises, one dislikes it and wants to get rid of it  Khi nào có cảm giác khó chịu nảy sinh, ta không thích nó và muốn loại trừ nó
 Then why these sensations? Clearly they occur because of the contact between any of the senses and an object of that particular sense: contact of the eye with a vision, of the earwith a sound, ofthe nose with an odour, of the tongue with a taste, ofthe body with something tangible, ofthe mind with a thought or an imagination  Rồi tại sao lại có những cảm giác? Rõ ràng chúng xảy ra vì sự xúc chạm giữa những giác quan với đối tượng của chúng: mắt tiếp xúc với vật nhìn, tai với âm thanh, mũi với mùi hương, lưỡi với vị nếm, thân thể với những gì cụ thể, tâm với ý nghĩ hoặc tưởng tượng
 As soon as there is a contact, a sensation is bound to arise, pleasant, unpleasant, or neutral  Ngay sau khi có sự xúc chạm, đương nhiên cảm giác nảy sinh, dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính
 And what is the reason for contact? Obviously, the entire universe is full of sense objects  Và tại sao lại có sự xúc chạm: rõ ràng, toàn thể vũ trụ tràn đầy những đối tượng của giác quan
 So long as the six senses – the five physical ones, together with the mind – are functioning, they are bound to encounter their respective objects  Khi nào sáu giác quan – năm giác quan cộng với tâm – còn hoạt động, chúng đương nhiên còn tiếp xúc với đối tượng tương ứng
 And why do these sense organs exist? It is clear that they are inseparable parts of the flow of mind and matter  they arise as soon as life begins  Và tại sao lại có những giác quan này? Nó rõ ràng là những phần không thể tách rời trong dòng trôi chảy của tinh thần và vật chất, chúng nảy sinh ngay sau khi sự sống bắt đầu
 And why does the life flow, the flow of mind and matter, occur? Because ofthe flow of consciousness, from moment to moment, from one life to the next  Và tại sao lại có dòng sống, dòng luân lưu của tinh thần và vật chất? Bởi vì có dòng tâm thức, trôi chảy từ giây phút này sang giây phút khác, từ đời này sang đời khác
 And why this flow of consciousness? He found that it arises because ofthe sankhara, the mental reactions  Tại sao lại có dòng tâm thức? Ngài nhận ra nó xảy ra vì sankhara, phản ứng tinh thần
 Every reaction gives a push to the flow of consciousness  Mọi phản ứng đều tạo ra một lực đẩy vào dòng tâm thức
 the flow continues because of the impetus given to it by reactions  dòng tâm thức tiếp tục trôi chảy vì động lực do những phản ứng tạo ra
 And why do reactions occur? He saw that they arise because of ignorance  Và tại sao có các phản ứng? Ngài thấy rằng chúng nảy sinh do sự vô minh
 One does not know what one is doing, does not know how one is reacting, and therefore  one keeps generating sankhara  Ta không biết ta đang làm gì, không biết ta đang phản ứng như thế nào, và do đó ta tiếp tục tạo ra sankhara
 So long as there is ignorance, suffering will remain  Khi nào còn vô minh, đau khổ sẽ vẫn còn
 The source ofthe process of suffering, the deepest cause, is ignorance  Nguồn gốc tiến trình của khổ, nguồn gốc sâu xa, là do vô minh
 From ignorance starts the chain of events by which one generates mountains of misery for oneself  Từ vô minh bắt đầu một chuỗi dữ kiện để tạo thành một bể khổ cho mình
 If ignorance can be eradicated, suffering will be eradicated  Nếu có thể diệt trừ vô minh, khổ sẽ bị diệt trừ
 How can one accomplish this? How can one break the chain? The flo w of life, of m ind and m atter, has already begun  Làm sao ta có thể làm được điều này? Làm sao ta có thể chặt đứt chuỗi dây xích? Dòng sống, hay dòng trôi chảy của tinh thần và vật chất, đã bắt đầu
 Committing suicide will not solve the problem,  it will only create fresh misery  Tự sát sẽ không giải quyết được vấn đề, nó chỉ tạo nên đau khổ mới
 Nor can one destroy the senses without destroying oneself  Người ta cũng không thể hủy hoại các giác quan mà không làm hại mình
 So long as the senses exist, contact is bound to occur with their respective objects, and whenever there is a contact, a sensation is bound to arise within the body  Khi nào giác quan còn tồn tại, sự xúc chạm với những đối tượng tương ứng đương nhiên sẽ xảy ra, và khi nào có sự xúc chạm, một cảm giác đương nhiên nảy sinh trong người
 Now here, at the link of sensation, one can break the chain  Ở chỗ này, ta có thể chặt đứt dây xích tại mắt xích cảm giác
 Previously, every sensation gave rise to a reaction of liking or disliking, which developed into great craving or aversion, great misery  Trước đây, mọi cảm giác đều đưa đến sự phản ứng bằng thích hoặc không thích, rồi biến thành nhiều thèm muốn hoặc chán ghét, biến thành nhiều đau khổ
 But now, instead of reacting to sensation, you are learning just to observe equanimously, understanding, “This will also change  Nhưng bây giờ, thay vì phản ứng lại cảm giác, quý vị đang học cách quan sát với sự bình tâm và hiểu rằng – “cảm giác này rồi cũng sẽ thay đổi”
 In this way sensation gives rise only to wisdom, to the understanding of anicca  Bằng cách này cảm giác chỉ làm nảy sinh ra trí tuệ, sinh ra sự hiểu biết về anicca – vô thường
 One stops the turning ofthe wheel of suffering and starts rotating it in the opposite direction, towards li beration  Ta chấm dứt sự luân chuyển của bánh xe khổ và bắt đầu quay chúng ngược lại, hướng về giải thoát
 Any moment in which one does not generate a new sankhara, one ofthe old ones will arise on the surface ofthe mind, and along with it a sensation will start within the body  Bất cứ giây phút nào ta không còn tạo ra sankhara mới, một trong những sankhara cũ sẽ nổi lên bề mặt của tâm, kèm theo đó một cảm giác sẽ nảy sinh trong người
 If one remains equanimous, it passes away and another old reaction arises in its place  Nếu ta giữ được sự bình tâm, cảm giác đó sẽ mất đi và một phản ứng tạo nghiệp cũ sẽ trồi lên thay thế
 One continues to remain equanimous to physical sensations and the old sankhara continue to arise and pass away, one after another  Ta tiếp tục giữ được sự bình tâm đối với các cảm giác trong nguời và những sankhara cũ tiếp tục sinh và diệt, hết cái này đến cái khác
 If out of ignorance one reacts to sensations, then one multiplies the sankhara, m ultiplies one’s misery  Nếu vì vô minh ta phản ứng lại cảm giác, ta gia tăng số lượng sankhara, gia tăng đau khổ cho mình
 But if one develops wisdom and does not react to sensations, then one after another the sankhara are eradicated, misery is eradicated  Nhưng nếu ta phát triển được trí tuệ và không phản ứng lại cảm giác, thì hết sankhara này đến sankhara khác sẽ bị diệt trừ, khổ đau được diệt trừ
 The entire path is a way to come out of misery  Toàn thể con đường tu tập là phương cách để diệt khổ
 By practising, you will find that you stop tying new knots, and that the old ones are automatically untied  Bằng cách thực tập, quý vị sẽ nhận ra rằng quý vị ngừng tạo ra những nút thắt mới, và những nút thắt cũ sẽ tự động được tháo mở
 Gradually you will progress towards a stage in which all sankhara leading to new birth, and therefore to new suffering, have been eradicated: the stage of total liberation, full enlightenment  Dần dần quý vị sẽ tiến tới giai đoạn trong đó tất cả những sankhara tạo ra cuộc đời mới mà từ đó dẫn tới đau khổ mới, bị diệt trừ.  Đây là giai đoạn hoàn toàn giải thoát, hoàn toàn giác ngộ
 To start the work, it is not necessary that one should first believe in past lives and future lives  Để bắt đầu luyện tập, ta không cần phải tin vào kiếp trước hay kiếp sau
 In practising Vipassana, the present is  most important  Trong sự luyện tập Vipassana, hiện tại là quan trọng nhất
 Here in the present life, one keeps generating sankhara , keeps making oneself miserable  Ngay trong đời này, ta cứ tạo ra sankhara, cứ tự làm mình khổ
 Here and now one must break this habit and start coming out of misery  Tại đây và ngay bây giờ ta phải dứt bỏ thói quen này và bắt đầu thoát khỏi đau khổ
 If you practice, certainly a day will come when you will be able to say that you have eradicated all the old sankhara, have stopped generating any new ones, and so have freed yourself from all suffering  Nếu luyện tập, chắc chắn một ngày nào đó, quý vị có thể  nói rằng mình đã diệt trừ hết mọi sankhara cũ, đã ngừng không tạo thêm sankhara  mới, và do đó giải thoát mình hết mọi khổ đau
 To achieve this goal, you have to work yourself. Therefore work hard during the remaining five days, to come out of your misery, and to enjoy the happiness of liberation  Để đạt được mục tiêu này, quý vị phải tự mình luyện tập.  Bởi vậy, hãy luyện tập hết mình trong năm ngày còn lại, để thoát khỏi đau khổ, và để hưởng được hạnh phúc của sự giải thoát
 May all of you enjoy real happiness  Nguyện cho quý vị hưởng được hạnh phúc thực sự
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY SIX DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ SÁU
 Im portance of developing awareness and equanimity tow ards sensations –  the fo u r elem en ts an d their relation to sensations –  the four causes of the arising of matter the five hindrances: craving, aversion, mental and physical sluggishness, agitation, doubt  Tầm quan trọng của việc phát triển sự tỉnh thức và sự bình tâm đối với các cảm giác –  – bốn nguyên tố và sự liên hệ với cảm giác – bốn nguyên nhân sinh ra vật chất – năm chướng ngại: thèm muốn, chán ghét, uể oải về tinh thần và thể xác, giao động, nghi ngờ
 Six days are over; you have four more left to work  Sáu ngày đã qua –  quý vị còn bốn ngày nữa để luyện tập
 In four days you can eradicate some of the mental defilements, and grasp the technique in order to make use of it throughout your life  Trong bốn ngày này quý vị có thể diệt trừ được một số bất tịnh, và hiểu rõ phương pháp để áp dụng trong suốt cuộc đời mình
 If you work with proper understanding and learn how to apply the technique in daily life, then certainly it will be very beneficial for you  Nếu quý vị luyện tập với sự hiểu biết đúng đắn và biết cách áp dụng phương pháp này vào cuộc sống hằng ngày, điều đó chắc chắn sẽ đem lại nhiều lợi ích cho quý vị
 Therefore understand the technique properly  Do đó nên hiểu phương pháp một cách đúng đắn
 This is not a path of pessimism  Đây không phải là một con đường bi quan
 Dhamma teaches us to accept the bitter truth of suffering, but it also shows the way out of suffering  Dhamma dạy ta chấp nhận sự thật cay đắng của khổ, nhưng Dhamma cũng dạy con đường để thoát khổ
 For this reason it is a path of optimism, combined with realism, and also ‘workism’ –  each person has to work to liberate himself or herself  Vì thế, đây là một con đường lạc quan, kết hợp với chủ nghĩa hiện thực, cũng như với “chủ nghĩa làm việc” – đó là mỗi người phải làm việc để tự giải thoát chính mình
 In a few words, the entire path was explained:  All sankhara are impermanent”  Toàn thể con đường luyện tập được giải thích bằng vài chữ: “Mọi sankhara đều vô thường”
 When one perceives this with true insight, then one becomes detached from suffering  Khi ta nhìn vô thường với trí tuệ thực sự, Ta xa lìa đau khổ
 this is the pat h of purification  Đây là con đường thanh lọc tâm
 Here the word sankhara means not only mental reactions, but also the results of these reactions  Ở đây chữ sankhara không những chỉ có nghĩa là phản ứng của tâm (hành nghiệp), mà còn là kết quả của những phản ứng này (nghiệp)
 Every mental reaction is a seed which gives a fruit, and everything that one experiences in life is a fruit, a result of one’s own actions, that is, one’s sankhara, past or present  Mọi phản ứng của tâm là một hạt giống sinh ra quả, và mọi sự ta trải nghiệm trong đời là quả, một hậu quả của những hành động của mình, nghĩa là, sankhara (nghiệp) của mình, trong quá khứ hay trong hiện tại
 Hence the meaning is, “Everything that arises, that becomes composed, will pass away, will disintegrate”  “Mọi sankhara đều vô thường”có nghĩa là, “mọi cái nảy sinh, thành hình, sẽ diệt mất, sẽ tan rã”
 Merely accepting this reality emotionally, or out of devotion, or intellectually, will not purify the mind, It must be accepted at the actual level, by experiencing the process of arising and passing away within oneself  Nếu chấp nhận sự thật này chỉ bằng cảm xúc, hoặc lòng sùng tín, hoặc lý trí, sẽ không thanh lọc được tâm,  Nó phải được chấp nhận ở mức độ  thực tế, bằng cách thể nghiệm được tiến trình sinh và diệt trong bản thân mình
 If one experiences impermanence directly by observing one’s own physical sensations, then the understanding that develops is real  wisdom, one’s own wisdom  Nếu ta trực tiếp chứng nghiệm được vô thường bằng cách quan sát cảm giác trong người, thì sự hiểu biết đạt được là trí tuệ thực sự, trí tuệ tự chứng của chính mình
 And with this wisdom one becomes freed from misery  Và nhờ trí tuệ này, ta thoát hết mọi đau khổ
 Even if pain remains, one no longer suffers from it  Mặc dù nếu vẫn còn bị đau nhức, ta không còn bị nó hành hạ
 Instead one can smile at it, because one can observe it  Trái lại, ta có thể mỉm cười trước cơn đau nhức, bởi vì ta có thể quan sát được nó
 The old mental habit is to seek to push away painful sensations and to pull in pleasurable ones  Thói quen cố hữu của tâm là tìm cách xua đuổi những cảm giác đau đớn và níu kéo những cảm giác khoan khoái
 So long as one is involved in the game of pain-and-pleasure, push-and-pull, the mind remains agitated, and one’s misery increases  Khi nào ta còn tham gia vào trò chơi đau khổ-sung sướng, xô đẩy-níu kéo, thì tâm ta vẫn còn giao động, và gia tăng nỗi khổ của mình
 But once one learns to observe objectively without identifying with the sensations, then the process – of purification starts, and the old habit of blind reaction and of multiplying one’s misery is gradually weakened and broken  Nhưng một khi ta biết quan sát một cách khách quan, không đồng hóa mình với cảm giác, thì tiến trình thanh lọc bắt đầu, và thói quen cố hữu của sự phản ứng mù quáng và gia tăng nỗi khổ của mình dần dần bị suy yếu và bị bẻ gãy
 One must learn how to just observe  Ta phải học được cách chỉ quan sát mà thôi
 This does not mean that by practising Vipassana one becomes a ‘vegetable’, passively allowing others to do one harm  Đây không có nghĩa là vì luyện tập Vipassana ta sẽ trở thành ‘cỏ cây’, thụ động để người khác làm hại mình
 Rather,  –  one  learns howto act instead of to react  Nhưng trái lại, ta học được cách hành động chứ không phản ứng
 Previously one lived a life of reaction, and reaction is always negative  Trước đây ta sống một cuộc đời toàn bằng phản ứng, và phản ứng thì luôn luôn tiêu cực
 Now you are learning how to live properly, to live a healthy life of real action  Bây giờ quý vị đang học cách sống đúng cách, sống một cuộc đời lành mạnh và tích cực
 Whenever a difficult situation arises in life, one who has learned to observe sensations will not fall into blind reaction  Khi gặp hoàn cảnh khó khăn trong đời, người đã biết cách quan sát cảm giác sẽ không còn phản ứng mù quáng
 Instead he will wait a few moments, remaining aware of sensations and also equanimous, and then will make a decision and choose a course of action  Trái lại người đó sẽ chờ vài giây phút, tiếp tục quan sát cảm giác và giữ được sự bình tâm, rồi sau đó sẽ đưa ra quyết định và lựa chọn đường lối hành động
 Such an action is certain to be positive, because it proceeds from a balanced mind  Một hành động như thế chắc chắn phải tích cực, bởi vì nó xuất phát từ sự bình tâm
 it will be a creative action, helpful to oneself and others  nó sẽ là một hành động sáng tạo, hữu ích cho mình và cho người
 Gradually, as one learns to observe the phenomenon of mind and matter within, one comes out of reactions, because one comes out of ignorance  Dần dần, khi ta biết cách quan sát hiện tượng tinh thần và vật chất trong người, ta thoát khỏi phản ứng, bởi vì ta hết vô minh
 The habit pattern of reaction is based on ignorance  Khuôn mẫu thói quen của phản ứng là vì vô minh
 Someone who has never observed reality within does not know what is happening deep inside, does not know how he reacts with craving or aversion, generating tensions which make him miserable  Người nào chưa từng quan sát thực tại trong bản thân sẽ không biết những gì đang xảy ra sâu tận bên trong, không biết mình phản ứng như thế nào đối với sự thèm muốn hay chán ghét, tạo ra căng thẳng để làm mình khổ
 The difficulty is that mind is far more impermanent than matter  Có một điều phức tạp là tâm thì vô thường hơn vật chất nhiều
 The mental processes occur so rapidly that one cannot follow them unless one has been trained to do so  Các tiến trình trong tâm xảy ra nhanh đến nỗi ta không thể theo dõi được chúng, trừ khi ta được huấn luyện để làm việc này
 Not knowing reality, one remains under the delusion that one reacts to external objects such as visions, sounds, tastes, etc  Không biết gì về thực tại, ta vẫn còn ảo tưởng là ta phản ứng đối với đối tượng bên ngoài như hình ảnh, âm thanh, mùi vị, v.v
 Apparently this is so, but someone who learns to observe himself will find that at a subtler level the reality is different  Điều này có vẻ như vậy, nhưng những ai biết quan sát chính mình sẽ thấy rằng, ở mức độ tinh tế hơn, sự thật khác hẳn
 The entire external universe exists for a person only when he or she experiences it, that is, when a sensory object comes into contact with one of the sense doors  Toàn thể thế giới bên ngoài hiện hữu đối với một người chỉ khi nào người đó cảm nghiệm được chúng, có nghĩa là, khi một đối tượng tiếp xúc với một giác quan  nào đó
 As soon as there is a contact, there will be a vibration, a sensation  Ngay khi có sự tiếp xúc, liền có một sự rung động, một cảm giác
 The perception gives a valuation to the sensation as good or bad, based on one’s past experiences and conditionings, past sankham-   Sự nhận định đánh giá cảm giác là tốt hay xấu tùy theo những kinh nghiệm hay nghiệp cũ, sankhara cũ
ln accordance with this coloured valuation the sensation becomes pleasant or unpleasant, and according to the type of sensation, one starts reacting with liking or disliking, craving or aversion  Dựa vào sự định giá sai lạc do thành kiến mà cảm giác trở thành dễ chịu hay khó chịu, và tùy theo loại cảm giác, ta bắt đầu phản ứng bằng cách thích hay không thích, them muốn hay chán ghét
 Sensation is the forgotten missing link between the external object and the reaction  Cảm giác là mắt xích bị bỏ quên giữa đối tượng bên ngoài và phản ứng
 The entire process occurs so rapidly that one is unaware of it: by the time a reaction reaches the conscious level, it has been repeated and intensified trillions of times, and has become so strong – that it can easily overpower the mind  Toàn thể tiến trình xảy ra nhanh đến nỗi ta không ý thức được, tới lúc một phản ứng đã nổi lên đến tầng ý thức, nó đã lặp đi lặp lại và gia tăng cường độ hằng tỉ tỉ lần, và đã trở nên mãnh liệt đến nỗi nó chế ngự được tâm một cách dễ dàng
 Siddhattha Gotama gained enlightenment by discovering the root cause of craving and aversion, and by eradicating them where they arise, at the level of sensation  Thái tử Siddhattha Gotama đạt được Giác ngộ nhờ khám phá ra nguyên nhân gốc rễ của sự thèm muốn hay chán ghét và nhờ diệt trừ chúng ngay tại nơi chúng nảy sinh, đó là tại tầng lớp cảm giác
 What he himself had done, he taught to others  Những gì chính Ngài đã thực hành, Ngài chỉ dạy cho người khác
 He was not unique in teaching that one should come out of craving and aversion  Ngài không phải là người duy nhất giảng dạy là ta phải dứt thèm muốn và chán ghét
 even before him, this was taught in India  Điều này đã được giảng dạy tại Ấn Độ ngay cả trước thời của Đức Phật
 Neither is morality unique to the teaching of the Buddha, nor the development of control of one’s mind  Không phải giới luật đạo đức hay sự phát triển khả năng làm chủ được tâm là những điểm đặc thù trong sự giảng dạy của Ngài
 Similarly, wisdom at the intellectual, emotional, or devotional levels also existed before the Buddha  Tương tự, sự hiểu biết ở mức độ lý trí, tình cảm, sùng tín cũng đã có trước thời của Đức Phật
 The unique element in his teaching lies elsewhere, in his identifying physical sensation as the crucial point at which craving and aversion begin, and at which they must be eliminated  Điểm đặc thù trong sự giảng dạy của Ngài nằm ở chỗ khác, nằm trong việc phát hiện ra cảm giác trên thân là mấu chốt nơi thèm muốn và chán ghét nảy sinh, và cũng là nơi chúng phải được diệt trừ
 Unless one deals with sensations, one will be working only at a superficial level of the mind, while in the depths the old habit of reaction will continue  Nếu ta không đối phó với cảm giác thì ta vẫn chỉ luyện tập ở tầng trên bề mặt của tâm, trong khi dưới bề sâu, thói quen cố hữu của sự phản ứng vẫn tiếp tục
 By learning to be aware of all the sensations within oneself and to remain equanimous towards them, one stops reactions where they start: one comes out of misery  Nhờ biết cách ý thức được tất cả những cảm giác trong chính mình và giữ được sự bình tâm đối với chúng, ta ngừng phản ứng tại nơi chúng nảy sinh, nhờ thế, ta thoát được khổ
 This is not a dogma to be accepted on faith, nor a philosophy to be accepted intellectually  Đây không phải là giáo điều được chấp nhận vì lòng tin, hoặc một triết lý được chấp nhận bằng lý trí
 You have to investigate yourself to discover the truth  Quý vị phải tự mình tìm hiểu để khám phá ra sự thật
 Accept it as true only when you experience it  Chỉ khi nào chứng nghiệm được thì mới chấp nhận nó là đúng
 Hearing about truth is important, but it must lead to actual practice  Nghe nói về sự thật cũng quan trọng, nhưng điều đó phải đưa đến sự luyện tập thực sự
 All the teachings of the Buddha must be practised and experienced for oneself so that one may come out of misery  Tất cả giáo huấn của Đức Phật phải được thực hành và chứng nghiệm cho chính mình, để ta có thể thoát khỏi khổ đau
 The entire structure of the body, the Buddha explained, is composed of subatomic particles – kalapa  –  consisting of the four elements and their subsidiary characteristics, joined together  Đức Phật giải thích, toàn thể cấu trúc thân thể được tạo thành bởi những vi tử – kalapa – trong đó có bốn nguyên tố chính (đất, nước, gió-không khí, lửa)với những thuộc tính của chúng kết hợp với nhau
 In the world outside as well as within, it is easy to see that some matter is solid –  earth element  Trong thế giới bên ngoài cũng như bên trong, rất dễ để thấy rằng một số vật chất ở thể đặc – nguyên tố đất
 some is liquid –  water element  một số ở thể lỏng – nguyên tố nước
 some is gaseous – air element  một số ở thể khí – nguyên tố gió
 and in every case, temperature is present –  fire element  và trong mọi trường hợp đều có sự hiện diện của nhiệt độ, nguyên tố lửa
 However, someone who examines reality within himself will understand the four elements at a subtler level  Tuy nhiên những ai khảo sát thực tại trong bản thân sẽ hiểu được bốn nguyên tố ở mức độ tinh tế hơn
 The entire range of weight from heaviness to lightness, is the field of earth element  Toàn bộ phạm vi của trọng  lượng từ nặng tới nhẹ, là lĩnh vực của nguyên tố đất
 Fire element is the field of temperature, from extreme  cold to extreme heat  Nguyên tố lửa là lĩnh vực của nhiệt độ, từ cực lạnh tới cực nóng
 Air element has to do with motion, from a seemingly stationary state to the greatest movement  Nguyên tố gió liên quan đến sự chuyển động, từ trạng thái dường như bất động tới trạng thái chuyển động nhanh nhất
 Water element concerns the quality of cohesiveness, of binding together  Nguyên tố nước liên quan đến tính chất kết dính, kết hợp với nhau
 Particles arise with a predominance of one or more elements  Các vi tử nảy sinh với sự nổi trội của một hay nhiều nguyên tố
 the others remain latent  những nguyên tố khác tiếp tục tiềm ẩn
 In turn, a sensation manifests in accordance with the quality of the element that is predominant in those particles  Đến lượt nó, một cảm giác sẽ biểu hiện một tính chất phù hợp với đặc tính của nguyên tố nổi trội trong những vi tử đó
 If kalapa arise with a predominance of fire element, a sensation occurs of heat or cold, and similarly for the other elements  Nếu kalapa nảy sinh với sự nổi trội của nguyên tố lửa thì một cảm giác về nóng hay lạnh nảy sinh, và tương tự như thế đối với các nguyên tố khác
 This is how all sensations arise within the physical structure  Đây là cách cảm giác nảy sinh trong cấu trúc thân thể
 If one is ignorant, one gives valuations and reacts to the sensations, generating new misery for oneself  Nếu vì vô minh, ta đánh giá và phản ứng lại các cảm giác, ta sẽ tạo ra khổ đau mới cho chính mình
 But if wisdom arises, one simply u nd e rstan d s tha t su b a to m ic particles are arising w ith a predominance of one or another element, and that these_ are all impersonal, changing phenomena, arising to pass away  Nhưng nếu trí tuệ phát sinh, ta hiểu rằng các vi tử chỉ nảy sinh với sự hiện diện của nhiều nguyên tố này hay nguyên tố khác, và chúng đều là những hiện tượng luôn đổi thay, hoàn toàn vô ngã, sinh ra rồi diệt đi
 With this understanding, one does not lose the balance of one’s mind when  facing any sensation  Với sự hiểu biết này, ta không đánh mất sự bình tâm của mình khi đối diện với bất cứ cảm giác nào
 As one continues observing oneself, it becomes clear why kalapa arise: they are produced by the input that one gives to the life flow, the flow of matter and mind  Khi tiếp tục quan sát chính mình, ta sẽ thấy rõ ràng tại sao kalapa nảy sinh: chúng sinh ra bằng thức ăn ta cung cấp cho dòng chảy của sự sống, dòng chảy của vật chất và tinh thần
 The flow of matter requires material input, of which there are two types: the food one eats and the atmosphere in which one lives  Dòng chảy của vật chất đòi hỏi phải có thức ăn, trong đó có hai loại: thực phẩm chúng ta ăn và bầu khí quyển nơi chúng ta sống
 The flow of mind requires mental input, which again is of two types: either a present or a past sankhara  Dòng chảy của tâm thức cần những thức ăn tinh thần, cũng gồm có hai loại: sankhara (nghiệp) của hiện tại hay của quá khứ
 If one gives an input of anger at the present moment, immediately mind influences matter, and kalapa will start to arise with a predominance of fire element, causing one to feel a sensation of heat  Nếu ta cung cấp đồ ăn bằng sự giận dữ trong giây phút hiện tại, lập tức tinh thần ảnh hưởng đến vật chất, và kalapa sẽ bắt đầu nảy sinh với sự nổi trội của nguyên tố lửa, làm cho ta cảm thấy nóng
 If the input is fear, the kalapa generated at that time will have a predominance of air element, and one feels a sensation of trembling  and so on  Nếu thức ăn là sợ hãi, kalapa sinh ra lúc đó sẽ có sự nổi trội của nguyên tố gió, và ta có cảm giác run rẩy  và cứ tiếp tục như thế
 The second type of mental input is a past sankhara  Loại thức ăn thứ hai là sankhara của quá khứ
 Every sankhara is a seed which gives a fruit, a result after some time  Mỗi sankhara là hạt giống, sau một thời gian, sẽ cho ra quả, sẽ sinh ra hậu quả
 Whatever sensation one experienced when planting the seed, the same sensation will arise when the fruit of that sankhara comes to the surface of the mind  Bất cứ cảm giác nào ta cảm thấy khi gieo nhân, cùng cảm giác đó sẽ nảy sinh khi quả của sankhara đó nổi lên bề mặt của tâm
 Of these four causes, one should not try to determine which is responsible for the arising of a particular sensation  Ta không nên tìm hiểu nguyên nhân nào trong bốn nguyên nhân này sinh ra loại cảm giác cá biệt nào đó
 One should merely accept whatever sensation occurs  Ta chỉ nên chấp nhận một cách đơn giản bất cứ cảm giác nào hiện diện
 The only effort should be to observe without generating a new sankhara  Chỉ nên cố gắng quan sát mà không tạo ra một sankhara mới
 If one does not give the input of a new reaction to the mind, automatically an old reaction will give its fruit, manifesting as sensation  Nếu ta không cho tâm thêm đồ ăn bằng phản ứng mới, tự động một sankhara cũ sẽ sinh quả của nó, thể hiện ra bằng cảm giác
 One observes, and it passes away  Ta quan sát, và cảm giác đó sẽ bị diệt mất
 Again one does not react  Một lần nữa ta không phản ứng
 therefore another old sankhara must give its fruit  do đó một sankhara cũ khác phải sinh ra quả
 In this way, by remaining aware and  equanimous, one allows the old sankhara to arise and pass away, one after another: one comes out of misery  Theo cách này, bằng cách giữ được ý thức và sự bình tâm, ta để cho những sankhara cũ nảy sinh và diệt mất, hết cái này đến cái khác: thế là ta thoát khỏi khổ
 The old habit of generating new reactions must be eliminated, and it can only be done gradually, by repeated practice, by continued work  Thói quen cố hữu tạo ra phản ứng phải được dứt bỏ, và nó chỉ có thể được loại trừ dần dần bằng sự thực hành lặp đi lặp lại nhiều lần, bằng cách luyện tập liên tục
 Of course there are hindrances, obstacles on the way: five strong enemies which try to overpower you and stop your progress  Dĩ nhiên có nhiều chướng ngại và khó khăn trên bước đường tu tập: năm kẻ thù ( Tham dục, Sân hận, Hôn trầm, Trạo cử, Nghi ngờ ) cố áp đảo và ngăn chặn sự tiến bộ của quý vị
 The first two enemies are craving and aversion  Hai kẻ thù đầu tiên là Tham dục- sự tham muốn hay thèm khát và Sân hận  – sự giận dử hay chán ghét
 The purpose of practising Vipassana is to eliminate these two basic mental defilements, yet they may arise even while you meditate, and if they overwhelm the mind, the process of purification stops  Mục đích của sự luyện tập Vipassana là để diệt trừ hai bất tịnh căn bản này.  Tuy nhiên, chúng vẫn có thể nảy sinh trong lúc quý vị hành thiền, và nếu chúng tràn ngập trong tâm, tiến trình thanh lọc bị ngừng lại
 You may crave for subtle sensations, or even for nibbana  Quý vị có thể tham muốn những cảm giác tinh tế hoặc ngay cả nibbana (niết bàn)
 it makes no difference  cũng chẳng có gì khác nhau
 Craving is a fire that burns, no matter what the fuel  Tham dục là một ngọn lửa bốc cháy, bất kể loại nhiên liệu là gì
 it takes you in the opposite direction from liberation  thèm muốn khiến quý vị đi ngược đường với sự giải thoát
 Similarly, you may start generating aversion towards the pain that you experience, and again you are off the track  Tương tự, quý vị có thể bắt đầu phát sinh ra sự chán ghét, sân hận đối với những đau nhức đang gặp phải, và một lần nữa quý vị lại đi sai đường
 Another enemy is laziness, drowsiness  Một kẻ thù khác là Hôn trầm -sự lười biếng, buồn ngủ
 All night you slept soundly, and yet when you sit to meditate, you feel very sleepy  Tuy ngủ say cả đêm nhưng khi ngồi thiền quý vị vẫn cảm thấy rất buồn ngủ
 This sleepiness is caused by your mental impurities, which would be driven out by the practice of Vipassana, and which therefore try to stop you from meditating  Sự buồn ngủ phát sinh vì những bất tịnh trong tâm.  Những bất tịnh này bị xua đuổi vì sự luyện tập Vipassana cho nên chúng cố làm cho quý vị ngừng tu tập
 You must fight to prevent this enemy from overpowering you  Quý vị phải chiến đấu để ngăn cản kẻ thù này thắng được mình
 Breathe slightly hard, or else get up, sprinkle cold water on your eyes, or walk a little, and then sit again  Thở mạnh hơn một chút, hoặc đứng dậy, vẩy nước lạnh vào mắt, hoặc đi bộ một chút, rồi ngồi thiền tiếp
 Alternatively, you may feel great agitation, another way in which the impurities try to stop you from practising Vipassana  Thêm vào đó, quý vị có thể cảm thấy bị Trạo cử – sự dao động dữ dội, đây là một cách khác để những bất tịnh cố chặn đứng quý vị luyện tập Vipassana
 All day you run here and there, doing anything except meditation  Suốt ngày, quý vị chạy hết chỗ này sang chỗ khác, làm đủ mọi việc ngoại trừ việc hành thiền
 Afterwards, you realize that you have wasted time, and start crying and repenting  Sau đó, quý vị nhận ra rằng mình đã phí thì giờ, và bắt đầu than van, hối hận
 But on the path of Dhamma there is no place for crying  Nhưng trên con đường Dhamma, không có chỗ đứng cho sự than khóc
 If you make a mistake, then you should accept it in front of an elder in whom you have confidence, and resolve to be careful not to repeat the mistake in future  Nếu phạm một lỗi lầm, quý vị nên thú nhận nó trước bậc trưởng thượng mà mình tin tưởng, và hứa sẽ cẩn trọng không tái phạm trong tương lai
 Finally, a great enemy is doubt, either about the teacher, or about the technique, or about one’s ability to practise it  Cuối cùng, một kẻ thù lớn nữa là sự nghi ngờ, hoặc nghi ngờ vị thầy, hoặc nghi ngờ phương pháp, hoặc nghi ngờ khả năng tu tập của mình
 Blind acceptance is not beneficial, but neither is endless unreasoning doubt  Chấp nhận mù quáng không có lợi ích gì, nhưng không ngừng nghi ngờ hoài một cách vô lý cũng thế
 So long as you remain immersed in doubts, you cannot take even one step on the path  Khi nào còn nghi ngờ, quý vị không thể tiến dù chỉ một bước trên con đường tu tập
 If there is anything that is not clear to you, do not hesitate to come to your guide  Nếu có điều gì quý vị thấy chưa được sáng tỏ, không nên ngần ngại tới gặp người hướng dẫn
 Discuss the matter with him, and understand it properly  Hãy thảo luận vấn đề này với vị đó để hiểu được một cách đúng đắn
 If you practise as you are asked to, the results are bound to come  Nếu quý vị luyện tập đúng theo những gì được hướng dẫn, thế nào cũng có kết quả
 The technique works, not by any magic or miracle, but by the law of nature  Phương pháp có hiệu quả, không phải nhờ vào pháp thuật hoặc phép lạ, mà bằng luật tự nhiên
 Anyone who starts working in accordance with natural law is bound to come out of misery  Bất cứ ai bắt đầu luyện tập phù hợp với luật tự nhiên đương nhiên sẽ hết khổ
 this is the greatest possible miracle  đây là phép lạ kỳ diệu nhất có thể xảy ra
 Large numbers of people have experienced the benefits of this technique, not only those who Caine to the Buddha himself, but also many in later ages, and in the present age  Một số đông người đã hưởng được những lợi ích của phương pháp thiền, không chỉ riêng những người đã gặp Đức Phật, mà cả những người thuộc các thế hệ sau Đức Phật hay thế hệ hiện tại
 If one practises properly, making efforts to remain aware and equanimous, then layers of past i mpurities are bound to rise to the surface of the mind, and to pass away  Nếu ta luyệnn tập đúng cách, cố gắng duy trì được chánh niệm và sự bình tâm, thì những lớp bất tịnh cũ không sớm thì muộn rồi cũng sẽ nổi lên bề mặt của tâm và bị diệt trừ
 Dhamma gives wonderful results here and now, provided one works  Nếu ta luyện tập, Dhamma cho ta kết quả tuyệt diệu ngay tại đây, ngay bây giờ
 Therefore work with full confidence and understanding  Do đó hãy luyện tập với đầy sự tin tưởng và hiểu biết
 Make best use of this opportunity in order to come out of all misery, and to enjoy real peace  Hãy tận dụng cơ hội này để thoát khỏi mọi đau khổ và hưởng được niềm an lạc thực sự
 May all of you enjoy real happiness  Nguyện cho quý vị hưởng được hạnh phúc thực sự
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY SEVEN DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ BẢY
 Importance of equanimity towards subtle as well as  gross sensations –    Tầm quan trọng của sự bình tâm đối với những cảm giác tinh tế cũng như thô thiển
continuity of awareness –  the five  friends’: faith, effort, awareness, concentration, wisdom  – sự ý thức liên tục – năm ‘người bạn’: Tín, Tấn, Niệm, Định, Huệ
 Seven days are over: you have three more left to work  Bảy ngày đã qua, quý vị còn ba ngày nữa để luyện tập
 Make best use of these days by working hard and continuously, understanding how you ought to practise  Hãy tận dụng ba ngày này bằng cách luyện tập nhiệt thành và liên tục, hiểu rõ mình phải luyện tập như thế nào
 There are two aspects of the technique: awareness and equanimity  Có hai phương diện trong phương pháp thiền: sự nhận thức và sự bình tâm
 One must develop awareness of all the sensations that occur within the framework of the body, and at the same time one must remain equanimous towards them  Ta phải phát triển được nhận thức về mọi cảm giác nảy sinh trên khắp cơ thể, và đồng thời, ta phải giữ được sự bình tâm đối với các cảm giác
 By remaining equanimous, naturally one will find, sooner or later, that sensations start to appear in areas that were blind, and that the gross, solidified, unpleasant sensations begin to dissolve into subtle vibrations  Bằng cách giữ được bình tâm, tự nhiên ta thấy rằng, không sớm thì muộn, nhiều cảm giác bắt đầu xuất hiện ở những chỗ trước đây còn mơ hồ, và những cảm giác thô thiển, nặng nề, khó chịu bắt đầu biến thành những rung động nhẹ nhàng
 One starts to experience a very pleasant flow of energy throughout the body  Ta bắt đầu cảm thấy một dòng năng lượng rất dễ chịu trong khắp cơ thể
 The danger when this situation arises is that one takes this pleasurable sensory experience as the goal towards which one was working  Sự nguy hiểm là khi điều này xảy ra, ta cho những kinh nghiệm cảm giác vừa ý này là mục tiêu của sự luyện tập của mình
 In fact, the purpose of practising Vipassana is not to experience a certain type of sensation, but rather to develop equanimity towards all sensations  Thực ra, mục đích tập Vipassana không phải là để hưởng thụ một loại cảm giác nào đó, mà để phát triển sự bình tâm đối với mọi cảm giác
 Sensations keep changing, whether gross or subtle  Cảm giác luôn luôn thay đổi, dù là thô thiển hay tinh tế
 One’s progress on the path can be measured only by the equanimity one develops towards every sensation  Sự tiến bộ của ta trên con đường luyện tập chỉ có thể đo được bằng sự bình tâm mà ta có được đối với mọi cảm giác
 Even after one has experienced a free flow of subtle vibrations throughout the body, it is quite possible that again a gross sensation may arise somewhere, or a blind area  Ngay cả sau khi ta đã cảm thấy dòng chảy thông suốt của những rung động vi tế trong khắp người, rất có thể một cảm giác thô thiển lại xuất hiện ở vài chỗ, hoặc một chỗ bị mù mờ
 These are signs not of regression but of progress  Đây là dấu hiệu của sự tiến bộ chứ không phải của sự thụt lùi
 As one develops in awareness and equanimity, naturally one penetrates deeper into the unconscious mind, and uncovers impurities hidden there  Khi ta phát huy được ý thức và sự bình tâm, tự nhiên ta thâm nhập sâu hơn vào trong vô thức, và phát hiện được những bất tịnh tiềm ẩn trong đó
 So long as these deem lying complexes remain in the unconscious, they are bound to bring misery in the future  Khi những bất tịnh nằm sâu trong vô thức này còn tồn tại thì đương nhiên chúng sẽ mang lại khổ đau trong tương lai
 The only way to eliminate them is to allow them to come up to the surface of the mind and pass away  Cách duy nhất để diệt trừ chúng là để chúng nổi lên bề mặt của tâm và tan biến đi
 When such deep-rooted sankhara arise on the surface, many of them may  be accompanied by unpleasant, gross sensations or blind areas within the body  Khi những sankhara (nghiệp) nằm sâu này nổi lên trên mặt, đa số mang theo những cảm giác khó  chịu, cảm giác thô nặng hay dường 
 If one continues to observe without reacting, the sensation passes away, and with it the sankhara ° f which it is a  manifestation  Nếu ta tiếp tục quan sát mà không phản ứng, cảm giác sẽ biến mất cùng một lúc với những sankhara đã tạo ra cảm giác ấy
 Every sensation, whether gross or subtle, has the same characteristic of impermanence  Mọi cảm giác, dù nặng nề hay nhẹ nhàng, đều có chung đặc tính của vô thường
 A gross sensation arises, seems to stay for some time, but sooner or later passes away  Một cảm giác thô thiển nảy sinh, dường như tồn tại trong giây lát, nhưng không sớm thì muộn cũng biến mất
 A subtle sensation arises and passes away with great rapidity, but stilt it has the same characteristic  Một cảm giác tinh tế nảy sinh và diệt mất hết sức nhanh chóng, nhưng nó cũng có cùng một đặc tính
 No sensation is eternal  Không một cảm giác nào tồn tại mãi mãi
 Therefore one should not have preferences or prejudices towards any sensation  Do đó ta không nên ưa thích hoặc ghét bỏ bất cứ một cảm giác nào
 When a gross, unpleasant sensation arises, one observes it without becoming depressed  Khi một cảm giác thô thiển, khó chịu nảy sinh, ta quan sát mà không trở nên phiền muộn
 When a subtle, pleasant sensation arises, one accepts it, even enjoys it, without becoming elated or attached to it  Khi một cảm giác tinh tế, dễ chịu nảy sinh, ta chấp nhận nó, ngay cả thưởng thức nó mà không trở thành hồ hởi, hoặc ràng buộc vào nó
 In every case one understands the impermanent nature of all sensations  Trong mỗi trường hợp ta hiểu được bản tánh vô thường của mọi cảm giác
 then one can smile when they arise and when they pass  away  từ đó ta có thể mỉm cười khi chúng nảy sinh và khi chúng biến mất đi
 Equanimity must be practised at the level of bodily sensation in order to make a real change in one’s life  Sự bình tâm phải được thực hành tại lĩnh vực cảm giác trên thân để ta có thể thực sự thay đổi đời mình
 At every moment sensations are arising within the body  Cảm giác nảy sinh trên thân trong mọi giây phút
 Usually the conscious mind is unaware of them, but the unconscious mind feels the sensations and reacts to them with craving or aversion  Thông thường, tâm ý thức không nhận ra được chúng, nhưng tâm vô thức cảm nhận được những cảm giác này và phản ứng lại chúng bằng sự thèm muốn hoặc chán ghét
 If the mind is trained to become fully conscious of all that occurs within the physical structure and at the same time to maintain equanimity, then the old habit of blind reaction is broken  Nếu tâm được rèn luyện để nhận biết rõ ràng tất cả những gì xảy ra trong cơ cấu thể chất và đồng thời duy trì được sự bình tâm, thì thói quen phản ứng mù quáng cố hữu sẽ bị phá vỡ
 One learns how to remain equanimous in every situation, and can therefore live a balanced,  happy life  Ta học được cách giữ được bình tâm trong mọi hoàn cảnh, và do đó có thể sống một cuộc sống quân bình, hạnh phúc
 You are here to experience the truth about yourself, how this phenomenon works, how it generates misery  Quý vị đến đây luyện tập để chứng nghiệm sự thật về mình, hiện tượng này hoạt động ra sao, nó tạo ra khổ bằng cách nào
 There are two aspects of the human phenomenon: material and mental, body and mind  Có hai phương diện trong cơ cấu một con người: vật chất và tinh thần, thân và tâm
 One must observe both  Ta phải quan sát cả hai
 But one cannot actually experience the body w ithout awareness of what arises in the body, that is, sensation  Nhưng ta không thể thực sự cảm nghiệm được thân nếu không ý thức được những gì nảy sinh trong thân, đó là cảm giác
 Similarly one cannot observe mind separately from what arises in the mind, that is, thought  Tương tự, ta không thể quan sát tâm tách khỏi những gì nảy sinh trong tâm, đó là ý nghĩ
 As one goes deeper in experiencing the truth of mind and matter, it becomes clear that whatever arises in the mind is also accompanied by a physical sensation  Khi ta đi sâu hơn trong việc chứng nghiệm sự thật về tâm và thân, thì rõ ràng là những gì nảy sinh trong tâm đều kèm theo một cảm giác nảy sinh trong thân
 Sensation is of central importance for experiencing the reality of both body and mind, and it is the point at which reactions start  Cảm giác là là một nơi quan trọng để ta chứng nghiệm được sự thật về cả thân lẫn tâm, và nó là nơi những phản ứng bắt đầu
 In order to observe the truth of oneself and to stop generating mental defilements, one must be aware of sensations and remain equanimous as continuously as possible  Để quan sát sự thật về chính mình và để ngừng tạo ra những bất tịnh trong tâm, ta phải nhận thức được các cảm giác và liên tục duy trì được sự bình tâm, càng lâu càng tốt
 For this reason, in the remaining days of the course, you must work continuously with closed eyes during meditation hours  Vì lý do này, trong những ngày còn lại của khóa thiền, quý vị phải liên tục luyện tập với đôi mắt nhắm trong những giờ thiền
 but during recess periods as well, you must try to maintain awareness and equanimity at the level of sensations  Nhưng trong những giờ nghỉ (với đôi mắt mở), quý vị nên cố gắng duy trì nhận thức và sự bình tâm trong lĩnh vực cảm giác
 Perform whatever action you must do in the usual way, whether walking, eating, drinking, or bathing  Hãy làm những việc quý vị phải làm một cách bình thường, cho dù là đi lại, ăn uống, hoặc  tắm rửa
 don’t slow the action down  không cần làm chậm rãi hơn
 Be aware of the physical movement of the body, and at the same time of the sensations, if possible in the part of the body that is in motion, or else in any other part  Hãy nhận biết các chuyển động của cơ thể, đồng thời nhận biết những cảm giác tại những phần đang chuyển động, nếu có thể được, hoặc bất cứ chỗ nào khác
 Remain aware and equanimous  Cố gắng duy trì được ý thức và sự bình tâm
 Similarly, when you go to bed at night, close your eyes and feel sensation anywhere within the body  Tương tự, ban đêm khi đi ngủ, nhắm mắt và nhận biết cảm giác tại bất cứ nơi nào trong cơ thể
 If you fall asleep with this awareness, naturally as soon as you wake up in the morning, you will be aware of sensation  Nếu ngủ với sự nhận biết này, ngay sau khi thức giấc vào buổi sáng, quý vị tự nhiên sẽ có sự nhận thức về cảm giác
 Perhaps you may not sleep soundly, or you may even remain f u||y awake throughout the night  Có thể quý vị không ngủ say, hoặc có thể thức trắng đêm
 This is wonderful, provided you stay lying in bed and maintain awareness and equanimity  Thật là tuyệt vời, với điều kiện quý vị nằm trên giường và duy trì được nhận thức và sự bình tâm
 The body will receive the rest it needs, and there is no greater rest for the mind than to remain aware and equanimous  Cơ thể sẽ nhận được sự nghỉ ngơi cần thiết, và không sự nghỉ ngơi nào tốt hơn cho tâm bằng cách duy trì được sự nhận biết và sự bình tâm
 However, if you start worrying that you are developing insomnia, then you will generate tensions, and will feel exhausted the next day  Tuy nhiên, nếu bắt đầu lo sợ bị mất ngủ, khi đó quý vị sẽ tạo ra căng thẳng, và ngày hôm sau sẽ cảm thấy kiệt sức
 Nor should you forcefully try to stay awake, remaining in a seated posture all night  Hoặc quý vị bắt mình phải thức, ngồi suốt đêm
 that would be going to an extreme  đó là điều thái quá
 If sleep comes, very good  sleep  Nếu buồn ngủ, rất tốt, cứ ngủ
 If sleep does not come, allow the body to rest by remaining in a recumbent position, and allow the mind to rest by remaining aware and equanimous  Nếu không ngủ được, hãy giữ cho cơ thể được nghỉ ngơi trong tư thế nằm thoải mái, và để cho tâm được nghỉ ngơi bằng cách duy trì được sự nhận thức và sự bình tâm
 The Buddha said, “When a meditator practises ardently, without neglecting for a moment awareness and equanimity towards sensations, such a person develops real wisdom, understanding sensations completely  Đức Phật nói: “Khi một thiền giả luyện tập chuyên cần, không giây phút nào xao lãng nhận thức và bình tâm đối với cảm giác, người đó có được trí tuệ thực sự, hoàn toàn hiểu rõ cảm giác”
 The meditator understands how one who lacks wisdom reacts to sensations, and multiplies his misery  Thiền giả hiểu rõ bằng cách nào một người không có trí huệ phản ứng lại cảm giác và làm gia tăng nỗi khổ của mình
 The meditator also understands how one who bears in mind the impermanent nature of all sensations will not react to them, and will come out of misery  Thiền giả cũng hiểu rõ bằng cách nào một người luôn luôn hiểu được bản tánh vô thường của mọi cảm giác sẽ không phản ứng lại chúng và sẽ thoát khỏi đau khổ
 The Buddha continued, With this thorough understanding, the meditator is able to experience the stage beyond mind and matter –  nibbana  Đức Phật nói tiếp, “Với sự hiểu biết tường tận này, thiền giả có thể chứng nghiệm được trạng thái vượt ra ngoài tinh thần và vật chất – nibbana (niết bàn)”
 one cannot experience nibbana until the heaviest sankhara have been eliminated – those that would lead to a future life in a lower form of existence where misery would predominate  Người ta không thể chứng nghiệm được nibbana trước khi những sankhara (nghiệp) nặng nề nhất đã được diệt trừ – loại sankhara sẽ dẫn đời sau của người đó đến những cảnh giới thấp kém hơn với nhiều đau khổ
 Fortunately, when one starts to practise Vipassana, it is these very sankhara that arise first  May mắn thay, khi ta bắt đầu tập Vipassana, chính những sankhara này nổi lên trước tiên
 One remains equanimous and they pass away  Ta giữ được sự bình tâm và chúng bị diệt trừ
 When all such sankhara ^ave been eradicated, then naturally one experiences nibbana for  first time)  Khi tất cả những sankhara (nặng nề nhất  )đó đã bị diệt trừ, đương nhiên ta sẽ chứng nghiệm được nibbana lần đầu tiên
 Having experienced it, one is totally changed, and can no longer perform any action that would lead to a future life in a lower form of existence  Khi đã chứng nghiệm được nibbana, ta thay đổi hoàn toàn, và không còn làm những hành động khiến cuộc đời tương lai bị rơi vào cảnh giới thấp hơn
 Gradually one proceeds to higher stages, until all the sankhara have been eradicated that would have led to future life anywhere within the conditioned world  Dần dần ta tiến tới giai đoạn cao hơn, cho đến khi tất cả mọi sankhara khiến đưa đến đời sống tương lai còn trong thế giới hữu nghiệp đều bị diệt trừ
 Such a person is fully liberated and therefore, the Buddha concluded, Comprehending the entire truth of mind and matter, when he dies he passes beyond the conditioned world, because he has understood sensations perfectly”  Một người như vậy được giải thoát hoàn toàn, do đó Đức Phật kết luận, “Nhờ hiểu rõ toàn thể sự thật về tinh thần và vật chất, khi qua đời, người đó thoát khỏi thế giới hữu nghiệp, bởi vì người đó hoàn toàn hiểu rõ các cảm giác”
 You have made a small beginning on this path by practising to develop awareness of sensations throughout the body  Quý vị khởi sự trên con đường này bằng cách luyện tập để phát triển ý thức về những cảm giác trong khắp cơ thể
 If you are careful not to react to them, you will find that layer by layer, the old sankhara are eradicated  Nếu cẩn thận không phản ứng lại chúng, quý vị sẽ nhận thấy rằng hết lớp này đến lớp khác, những sankhara cũ bị diệt trừ
 By remaining equanimous towards gross,  unpleasant sensations, you will proceed to experience subtler’ pleasant sensations  Bằng cách giữ được sự bình tâm đối với những cảm giác thô thiển, khó chịu, quý vị sẽ tiến đến sự cảm nghiệm được những cảm giác dễ chịu, tinh tế hơn
 If you continue to maintain equanimity, sooner or later you will reach the stage described by the Buddha, in which throughout the physical structure, the meditator experiences nothing but arising and passing away  Nếu tiếp tục giữ được sự bình tâm, không sớm thì muộn, quý vị sẽ đạt được giai đoạn Đức Phật mô tả, giai đoạn mà thiền giả cảm thấy trong toàn thể cơ cấu vật chất, không còn gì ngoài sự sinh và diệt
 All the gross, solidified sensations have dissolved  Tất cả những cảm giác thô thiển, nặng nề đều bị tan rã
 throughout the body there is nothing but subtle vibrations  trong khắp cơ thể không còn gì ngoài những rung động êm ái, nhẹ nhàng
 Naturally this stage is very blissful, but still it is not the final goal, and one must not become attached to it  Đương nhiên, trạng thái này hết sức khoan khoái, nhưng đó vẫn chưa phải là mục tiêu tối hậu, và ta không nên bị ràng buộc vào đó
 Some of the gross impurities have been eradicated, but others still remain in the depths of the mind  Một số những bất tịnh thô thiển đã bị diệt trừ, nhưng vẫn còn những bất tịnh khác tồn tại trong thâm tâm
 If one continues to observe equanimously, one  after another all the deeper sankhara arise and pass away  Nếu ta tiếp tục quan sát với sự bình tâm, hết cái này đến cái khác, tất cả sankhara ở sâu hơn sẽ nổi lên và bị diệt trừ
 When they are all eradicated, then one experiences the ‘deathless’ –  something beyond mind and matter, where nothing arises, and therefore nothing passes away – the indescribable stage  of nibbana  Khi tất cả đã bị diệt trừ, ta sẽ chứng nghiệm được cái ‘bất diệt’ – cái vượt ra ngoài tinh thần và vật chất, nơi bất sinh, cho nên cũng bất diệt – trạng thái không thể diễn tả được của nibbana
 Everyone who works properly to develop awareness and equanimity will certainly reach this stage  Người nào luyện tập đúng cách để phát triển sự nhận thức và sự bình tâm chắc chắn sẽ đạt được trạng thái này
 but each person must  work himself or herself  nhưng mỗi người phải tự mình luyện tập
 Just as there are five enemies, five hindrances which block your progress on the path, there are also five friends, five wholesome faculties of the mind, which help and support you  Nếu có năm kẻ thù, năm chướng ngại ngăn cản sự tiến bộ của quý vị trên con đường luyện tập, thì trong tâm cũng có năm người bạn, năm năng lực hoàn hảo giúp đỡ và hỗ trợ quý vị
 If you keep these friends strong and pure, no enemy can overpower you  Nếu quý vị giữ gìn để năm người bạn này được mạnh khỏe và trong sạch, không một kẻ thù nào có thể áp đảo được quý vị
The first friend is faith, devotion, confidence   Người bạn thứ nhất là Tín-đức tin, lòng thành tín, sự tự tin
 Without confidence one cannot work, being always agitated by doubts and skepticism   Nếu không tự tin ta không thể luyện tập, luôn luôn bị giao động vì nghi ngờ, thắc mắc
 However, if faith is blind, it is a great enemy  Tuy nhiên nếu là niềm tin mù quáng, nó là kẻ thù lớn
 It becomes blind if one loses discriminatory intelligence, the proper understanding of what right devotion is  Ta trở nên mù quáng khi ta mất trí khôn để phân biệt, mất sự hiểu biết đúng đắn thế nào là lòng thành tín chân chính
 One may have faith in any deity or saintly person, but if it is right faith, with proper  understanding, one will remember the good qualities of that person, and will gain inspiration to develop those qualities in oneself   Ta có thể có lòng tin vào bất cứ vị thần hoặc vị thánh nào, nhưng nếu đó là đức tin chính đáng, với sự hiểu biết đúng đắn, ta sẽ nhớ tới phẩm chất tốt đẹp của vị ấy, và sẽ phấn khởi để phát triển phẩm chất đó cho mình
Such devotion is meaningful and helpful  Lòng thành tín như thế là lòng thành tín có ý nghĩa và hữu ích
 But if one does not try to develop the qualities of the person towards whom one has devotion, it is blind faith, which is very harmful  Nhưng nếu ta không cố gắng để phát triển những phẩm chất như của người mà ta tôn kính, đó là lòng tin mù quáng, rất tai hại
 For example, when one takes refuge in the Buddha, one must remember the qualities of a Buddha, and must work to develop those qualities in oneself  Ví dụ như khi nương tựa vào Đức Phật, ta nhớ tới những phẩm chất của Đức Phật và ta phải luyện tập để phát triển những phẩm chất đó cho mình
 The essential quality of a Buddha is enlightenment  Phẩm chất chính yếu của Đức Phật là sự giác ngộ
 therefore the refuge is actually in enlightenment, the enlightenment that one develops in oneself  do đó nương tựa chính là nương tựa vào sự giác ngộ, sự giác ngộ mà ta phát triển cho chính mình
 One pays respect to anyone who has reached the stage of full enlightenment  Ta tôn kính bất cứ ai đạt được sự giác ngộ  viên mãn
 that is, one gives importance to the quality wherever it may manifest, without being bound to a particular sect or person  nghĩa là, ta coi trọng phẩm chất ở bất cứ nơi nào điều đó biểu hiện, không bị ràng buộc vào tông phái nào hoặc người nào
 And one honours the Buddha not by rituals or ceremonies, but by practising his teachings, by walking on the path of Dhamma from the first step, 511a, to samadhi , to panna, to nibbana, liberation  Và ta tôn kính Đức Phật không phải bằng nghi thức hay nghi lễ mà bằng cách thực hành theo những lời dạy của Ngài, bằng cách đi theo con đường của Dhamma từ bước thứ nhất, sila giới, đến samadhi định, đến panna tuệ, rồi đến nibbana (niết bàn), giải thoát
 Anyone who is a Buddha must have the following qualities  Bất cứ ai thành Phật đều phải có những phẩm chất sau đây
 He has eradicated all craving, aversion, ignorance  Người đó đã diệt trừ hết mọi tham-thèm muốn, sân- chánh ghét, si-vô minh
 He has conquered all his enemies, the enemies within, that is, the mental impurities  Người đó đã chiến thắng mọi kẻ thù, kẻ thù nội tâm, nghĩa là, những bất tịnh trong tâm
 He is perfect not only in the theory of Dhamma, but also in its application  Người đó toàn thiện không phải chỉ trong lý thuyết về Dhamma, mà còn về thực hành
 What he practises, he preaches, and what he preaches, he practises  Người đó chỉ giảng dạy những gì mình thực hành, và chỉ thực hành những gì mình giảng dạy
 there is no gap between his words and his deeds  không một chút khác biệt nào giữa lời nói và việc làm
 Every step that he takes is a right step, leading in the right direction  Mỗi bước đi của người đó đều đúng đắn, và dẫn đi đúng hướng
 He has learned everything about the entire universe, by exploring the universe within  Người đó đã hiểu thấu mọi sự trong toàn vũ trụ thông qua việc khám phá thế giới nội tâm
 He is overflowing with love, compassion, sympathetic joy for others, and keeps helping those who are going astray to find the right path  Người đó tràn đầy tình thương, lòng từ , lòng tuỳ hỉ với người khác, và luôn luôn giúp những ai lạc lối trở về đường ngay nẻo chánh
 He is full of perfect equanimity  Người đó có đầy sự bình tâm hoàn toàn
 If one works to develop these qualities in oneself in order to reach the final goal, there is meaning in one’s taking refuge in the Buddha  Nếu ta luyện tập để phát triển những phẩm hạnh này cho chính mình để đạt được mục tiêu tối hậu thì việc nương tựa vào Phật mới có ý nghĩa
 Similarly, taking refuge in Dhamma has nothing to do with sectarianism  Tương tự, nương tựa vào Dhamma không liên quan gì đến tông phái
 it is not a matter of being converted from one organized religion to another  không phải là sự cải đạo từ tổ chức tôn giáo này sang tổ chức tôn giáo khác
 Taking refuge in Dhamma is actually taking refuge in morality, in mastery over one’s own mind, in wisdom  Nương tựa vào Dhamma thực ra là nương tựa vào đạo đức, vào việc làm chủ được tâm mình, vào trí tuệ
 For a teaching to be Dhamma, it must also have certain qualities  Sự giảng dạy nếu đúng là Dhamma cũng phải có những phẩm chất nhất định
 Firstly it must be clearly explained, so that anyone can understand it  Trước tiên, Pháp phải được giải thích rõ ràng để mọi người có thể hiểu được
 It is to be seen for oneself before one’s very eyes, the reality experienced by oneself, not an imagination  Pháp phải được thấy bằng chính mắt mình, sự thật do chính mình chứng nghiệm được chứ không phải bằng tưởng tượng
 Even the truth of nibbana is not to be accepted until one has experienced it  Ngay cả sự thật về nibbana cũng không được chấp nhận cho tới khi chính mình chứng nghiệm được
 Dhamma must give beneficial results here and now, not merely promise benefits to be enjoyed in future  Dhamma phải có kết quả hữu ích ngay tại đây và ngay bây giờ, chứ không chỉ là những lợi ích hứa hẹn được hưởng trong tương lai
 It has the quality of ‘come- and-see’  Dhamma có phẩm chất của ‘đến-và-thấy’
 see for yourself, try it yourself, don’t accept it blindly  chính mình thấy, chính mình thử qua, không chấp nhận một cách mù quáng
 And once one has tried it and experienced its benefits, one cannot resist encouraging and helping others to come and see as well, Every step on the path leads nearer to the final goal  Và một khi ta đã thử và hưởng được những lợi lạc, ta không thể cưỡng được việc khuyến khích và giúp đỡ những người khác cùng đến và thấy.  Mỗi bước trên con đường dẫn ta tới gần mục đích cuối cùng hơn
 no effort goes to waste  không một nỗ lực nào bị uổng phí
 Dhamma is beneficial at the beginning, in the middle, at the end  Dhamma mang lại lợi lạc ngay lúc đầu, lúc giữa và lúc cuối
 Finally, any person of average intelligence, of whatever background, can practise it and experience the benefits  Cuối cùng, bất cứ nguời nào với trí thông minh trung bình, thuộc bất cứ giai cấp nào, đều có thể luyện tập và hưởng được những lợi ích
 With this understanding of what it actually is, if one takes refuge in Dhamma and starts practising it, one’s devotion has real meaning  Với sự hiểu biết Dhamma thực sự như thế này, nếu ta nương tựa Dhamma và bắt đầu thực hành Dhamma, lòng thánh tín của ta mới có ý nghĩa thực sự
 In the same way, taking refuge in Sangha is not a matter of getting involved with a sect  Tương tự như thế, nương tựa vào Sangha không phải là vấn đề gia nhập vào tông phái
 Anyone who has walked on the path of sila, samadhi, and panna and who has reached at least the first stage of liberation, who has become a saintly person, is a Sangha  Những ai đã từng đi theo con đường của sila (giới), samadhi (định), panna (tuệ) và ít nhất cũng đã đạt được giai đoạn đầu của giải thoát, người đã trở thành thánh nhân, là một Sangha
 He or she may be anyone, of any appearance, any colour, any background  Người đó có thể là bất cứ ai, tướng mạo như thế nào, mang màu da nào, thuộc giai cấp nào
 it makes no difference  cũng không có gì khác biệt
 If one is inspired by seeing such a person and works to reach the same goal oneself, then one’s taking refuge in Sangha is meaningful, right devotion  Nếu ta được khích lệ khi gặp một người như thế và luyện tập để đạt được mục tiêu tương tự, khi đó việc nương tựa vào Sangha mới là một sự thành tín có ý nghĩa và chính đáng
 Another friend is effort  Một người bạn khác là Tín- sự nỗ lực
 Like faith, it must not be blind  Cũng giống như đức tin, nỗ lực không được mù quáng
 Otherwise there is the danger that one will work in a wrong way, and will not get the expected results  Nếu không, sẽ có nguy cơ là ta tập sai đường và không gặt hái được những kết quả mong đợi
 Effort must be accompanied by proper understanding of how one is to work  Nỗ lực phải đi kèm với sự hiểu biết đúng đắn là ta phải tập như thế nào
 then it will be very helpful for one’s progress  chỉ như vậy sự nỗ lực mới có ích cho sự tiến bộ của mình
 Another friend is awareness  Một người bạn khác là Niệm-sự nhận thức
 Awareness can only be of the reality of the present moment  Nhận thức chỉ có thể liên quan đến sự thực của giây phút hiện tại
 One cannot be aware of the past, one can only remember it  Ta không thể nhận biết được quá khứ mà chỉ có thể nhớ lại
 One cannot be aware of the future, one can only have aspirations for or fears of the future  Ta không thể nhận thức được tương lai mà chỉ có thể khao khát hoặc lo nghĩ về tương lai
 One must develop the ability to be aware of the reality that manifests within oneself at the present moment  Ta phải phát triển khả năng nhận thức được thực tại xảy ra trong ta ngay ở giây phút hiện tại
 The next friend is concentration, sustaining the awareness of reality from moment to moment, without any break  Người bạn kế tiếp là Định- , giữ được ý thức về thực tại từ giây phút này qua giây phút khác mà không bị gián đoạn
 It must be free from all imaginations, all cravings, all aversion  only then is it right concentration  Định phải hoàn toàn không có sự tưởng tượng, thèm muốn hay chán ghét, chỉ khi đó mới là định đúng cách
 And the fifth friend is wisdom – not the wisdom acquired by listening to discourses, or reading books, or intellectual analysis  one must develop wisdom within oneself at the experiential level, because only by this experiential wisdom can one become liberated  Và người bạn thứ năm là Huệ- trí tuệ – Không phải trí tuệ nhờ nghe pháp hoặc đọc sách, hoặc bằng phân tích tư duy mà ta phải phát triển trí tuệ cho chính mình ở lĩnh vực thực nghiệm, bởi vì chỉ nhờ trí tuệ thực nghiệm này ta mới có thể được giải thoát
 And to be real wisdom, it must be based on physical sensations: one remains equanimous towards sensations, understanding their impermanent nature  Và trí tuệ thực sự phải là trí tuệ dựa trên cảm giác trong thân: ta giữ được sự bình tâm đối với cảm giác, hiểu rõ tính chất vô thường của chúng
 This is equanimity at the depths of the mind,  which will enable one to remain balanced amid all the vicissitudes of daily life  Đây là sự bình tâm từ trong thâm tâm khiến ta giữ được thăng bằng giữa những thăng trầm của cuộc sống hằng ngày
 All the practice of Vipassana has as its purpose to enable one to live in a proper way, fulfilling one’s worldly responsibilities while maintaining a balanced mind, remaining peaceful and happy within oneself and making others peaceful and happy  Tất cả sự tu tập Vipassana đều với mục đích giúp ta sống một cách đúng đắn, chu toàn trách nhiệm làm người mà vẫn duy trì được sự bình tâm, giữ được an lạc và hạnh phúc trong chính mình và làm cho người khác được an lạc và hạnh phúc
 If you keep the five friends strong, you will become perfect in the art of living, and will lead a happy, healthy, good life  Nếu quý vị giữ năm người bạn này được mạnh khoẻ, quý vị sẽ trở nên toàn thiện trong nghệ thuật sống, và sẽ sống một cuộc đời hạnh phúc, lành mạnh, tốt đẹp
 Progress on the path of Dhamma, for the good and benefit of yourself and of so many  Vì sự lợi ích và sự tốt lành cho mình và cho nhiều người khác, hãy tinh tấn trên con đường Dhamma
 May all suffering beings come into contact with pure Dhamma, to emerge from their misery and to enjoy real happiness  Nguyện cho mọi chúng sinh đang đau khổ được tiếp xúc với Dhamma thuần khiết, để thoát khỏi khổ đau và hưởng được hạnh phúc thực sự
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY EIGHT DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ TÁM
 The law of multiplication and its reverse, the law of eradication –  equanimity is the greatest welfare –  equanimity enables one to live a life of real action –  by remaining equanimous, one ensures a happy future for oneself  Định luật tăng trưởng và ngược lại, định luật tịch diệt –  Sự bình tâm là hạnh phúc lớn nhất – sự bình tâm giúp ta sống một cuộc sống với hành động chín chắn – bằng cách giữ được bình tâm, ta bảo đảm một tương lai hạnh phúc cho mình
 Eight days are over.  you have two more left to work  Tám ngày đã qua, quý vị còn hai ngày nữa để luyện tập
 In the remaining days, see that you understand the technique properly, so that you may practise it properly here and also make use of it in your daily life  Trong những ngày còn lại, quý vị phải chắc là mình hiểu được phương pháp một cách đúng đắn, để có thể luyện tập tại đây cũng như áp dụng trong cuộc sống hằng ngày
 Understand what Dhamma is: nature, truth, universal  law  Nên hiểu rõ Dhamma là gì: đó là luật của thế giới tự nhiên, là sự thật, là quy luật phổ quát
 On one hand there is a process of constant multiplication  Một mặt có một tiến trình tăng trưởng không ngừng
 On the other hand, there is a process of eradication  Mặt khác, có một tiến trình diệt trừ
 This was well explained in a few words:  Điều này được giải thích rõ ràng trong vài chữ:
 I mpermanent truly are conditioned things, by nature arising and passing away  Mọi sự hữu nghiệp đều vô thường với đặc tính sinh và diệt
 If they arise and arc extinguished,  Nếu sinh diệt (tịch ) diệt rồi
 their eradication brings true happiness  Sự tịch diệt mang lại hạnh phúc thực sự
 Every sankhara, every mental conditioning is impermanent, having the nature of arising and passing away  Mọi sankhara, mọi nghiệp, đều vô thường, đều có bản tánh sinh và diệt
 It passes away, but next m oment it arises again, and again  Nó bị diệt trừ, nhưng giây phút kế tiếp nó lại nảy sinh, tiếp tục nảy sinh
 this is how the I multiplies  đây là cách sankhara tăng trưởng
 If one develops wisdom and starts observing objectively, the process of multiplication stops and the process of eradication begins  Nhưng khi ta có trí tuệ và bắt đầu quan sát một cách khách quan, tiến trình tăng trưởng chấm dứt và tiến trình diệt trừ bắt đầu
 A sankhara arises, but the meditator remains equanimous  Khi một sankhara nảy sinh, nhưng thiền giả giữ được sự bình tâm
 it loses all its strength and is eradicated  nó mất đi sức mạnh và bị diệt trừ
 Layer after layer, the old sankhara Will arise and be eradicated, provided one remains equanimous  Hết lớp này đến lớp khác, những sankhara cũ sẽ nổi lên và bị diệt trừ, với điều kiện ta phải giữ được sự bình tâm
 As much as the sankhara are eradicated, that much happiness one enjoys, the happiness of freedom from misery  Càng nhiều sankhara bị diệt trừ chừng nào ta càng hưởng được nhiều hạnh phúc chừng đó, hạnh phúc của sự giải thoát khỏi đau khổ
 If all the past sankhara are eradicated, one enjoys the limitless happiness  of full liberation  Nếu tất cả những sankhara trong quá khứ bị diệt trừ, ta hưởng được hạnh phúc vô tận của sự giải thoát hoàn toàn
 The old habit of the mind is to react, and to multiply reactions  Thói quen cố hữu của tâm là phản ứng, và gia tăng những phản ứng
 Something unwanted happens, and one generates a sankhara  aversion  Một điều gì không như ý xảy ra, thế là ta tạo ra một sankhara chán ghét
 As the sankhara arises in the mind, it is accompanied by  an unpleasant physical sensation  Khi sankhara này nảy sinh trong tâm, một cảm giác khó chịu trong thân cũng nảy sinh
 Next moment, because of the old habit of reaction, one again generates aversion, which is actually directed towards the unpleasant bodily sensation  Giây phút sau đó, vì thói quen phản ứng cố hữu, ta lại sinh ra ghét bỏ cảm giác khó chịu trong người vừa nảy sinh đó
 The external stimulus of the anger is secondary  Nguyên nhân bên ngoài gây ra sự nóng giận là phụ
 the reaction is in fact to the sensation within oneself  sự phản ứng thực ra là phản ứng đối với các cảm giác trong người
 The unpleasant sensation causes one to react with aversion, which generates another unpleasant sensation, which again causes one to react  Cảm giác khó chịu khiến ta phản ứng bằng sự chán ghét rồi từ đó sinh ra một cảm giác khó chịu khác, rồi lại khiến ta phản ứng
 In this way, the process of multiplication begins  Bằng cách này tiến trình tăng trưởng bắt đầu
 If one does not react to the sensation but instead smiles and understands its impermanent nature, then one does not generate a new sankhara, and the sankhara that has already arisen will pass away without multiplying  Nếu ta không phản ứng lại cảm giác mà trái lại mỉm cười và hiểu được bản tánh vô thường của cảm giác, thì khi đó ta không tạo ra sankhara mới, và sankhara đã nảy sinh sẽ mất đi mà không tăng trưởng
 Next moment, another sankhara of the same type will arise from the depths of the mind  Giây phút kế tiếp, một sankhara giống như thế sẽ nảy sinh từ sâu trong nội tâm
 one remains equanimous, and it will pass away  ta giữ được bình tâm, và nó sẽ biến mất
 Next moment another arises,  one remains equanimous, and it passes away  Giây phút kế tiếp, một cảm giác khác nảy sinh, ta vẫn giữ được bình tâm, và nó biến mất
 The process of eradication has started  Tiến trình diệt trừ bắt đầu
 The processes that one observes within oneself also occur throughout the universe  Tiến trình mà ta quan sát trong chính mình cũng xảy ra trong khắp vũ trụ
 For example, someone sows the seed of a banyan tree  Ví dụ, ai đó gieo hạt giống cây đa
 From that tiny seed a huge tree develops, which bears innumerable fruit year after year, as long as it lives  Từ hạt giống nhỏ xíu đó mọc thành một cây vĩ đại, khi còn sống, nó cho vô số trái từ năm này sang năm khác
 And even after the tree dies, the process continues, because every fruit that the tree bears contains a seed or a number of seeds, which have the same quality as the original seed from which the tree grew  Và ngay cả khi cây đã chết, tiến trình vẫn tiếp tục, bởi vì mỗi trái của cây đó đều mang những hạt giống có cùng đặc tính của hạt giống nguyên thủy sinh ra cây đó
 Whenever one of these seeds falls on fertile soil it sprouts and grows into another tree which again produces thousands of fruit, all containing seeds  Khi một hạt giống này rơi xuống đất màu mỡ, nó nảy mầm và mọc thành một cây khác và cây này lại sinh ra hàng ngàn quả trong có đầy hạt giống
 Fruit and seeds, seeds and fruit  Quả và nhân, nhân và quả
 an endless process of multiplication  một tiến trình sinh sôi nảy nở bất tận
 In the same way, out of ignorance one sows the seed of a sankhara, which sooner or later gives a fruit, also called sankhara, and also containing a seed of exactly the same type  Tương tự như vậy, vì vô minh, ta gieo hạt giống sankhara (tạo nghiệp), không sớm thì muộn cũng sinh ra quả, cũng được gọi là sankhara (nghiệp), và cũng chứa hạt giống cùng một loại
 If one gives fertile soil to the seed it sprouts into a new sankhara, and one’s misery multiplies  Nếu ta gieo hạt giống này vào đất màu mỡ nó sẽ sinh ra sankhara mới, và nỗi khổ của ta gia tăng
 However, if one throws the seeds on rocky soil, they cannot sprout  nothing will develop from them  Tuy nhiên, nếu ta bỏ hạt giống này vào đất sỏi đá khô cằn, nó không thể nảy mầm, không có gì sinh ra từ hạt giống này
 The process of multiplication stops, and automatically the reverse process begins, the process of eradication  Tiến trình tăng trưởng ngừng lại, và tự động tiến trình ngược lại bắt đầu, đó là tiến trình diệt trừ
 Understand how this process works  Nên hiểu rõ tiến trình này xảy ra như thế nào
 It was explained that some input is needed for the flow of life, of mind and matter, to continue  Ta được giải thích là dòng chảy của sự sống, của tinh thần và vật chất cần được tiếp tế nguyên liệu để tiếp tục
 The input fo r the body is the food one eats, as well as the atmosphere in which one lives, if one day one does not eat, the flow of matter does not stop at once  Nguyên liệu cho cơ thể là thực phẩm chúng ta ăn cũng như bầu không khí nơi ta sống,  Nếu một ngày ta không ăn, sự trôi chảy của vật chất không ngừng ngay lập tức
 It continues by consuming the old stocks of energy contained within the body  Nó tiếp tục bằng cách tiêu thụ năng lượng dự trữ trong người
 When all the stored energy is consumed, only then the flow stops, the body dies  Chỉ khi nào tất cả năng lượng dự trữ đã tiêu thụ hết giòng chảy mới ngừng, cơ thể chết đi
 The body needs food only two or three times a day, but the flow of the mind requires an input every moment  Cơ thể chỉ cần đồ ăn hai hay ba lần một ngày, nhưng giòngchảy tinh thần cần được tiếp tế liên tục
 The mental input is sankhara Every moment the sankhara that one generates is responsible for sustaining the flow of consciousness  Nguyên liệu tiếp tế cho tinh thần là sankhara.  Trong mỗi giây phút,  sankhara do ta tạo ra giúp cho giòng tâm thức tiếp tục trôi chảy
 The mind that arises in the next moment is a product of this sankhara  Tâm sinh ra vào giây phút kế tiếp là sản phẩm của sankhara này
 Every m om ent one gives the input of sankhara, and the flow of consciousness continues  Mỗi giây phút ta tiếp tế bằng sankhara, giòng tâm thức tiếp tục
 If at any moment one does not generate a new sankharathe flow does not stop at once  Nếu vào lúc nào đó ta ngừng không tạo ra sankhara mới, sự giòng chảy không ngừng ngay lập tức
 instead it draws on the stock of old sankhara  thay vào đó nó tiêu thụ những sankhara dự trữ cũ
 An old sankhara wiii be forced to give its fruit, that is, to come to the surface of the mind in order to sustain the flow  Một sankhara cũ bị bắt buộc tạo ra quả, nghĩa là, nổi lên bề mặt của tâm để duy trì giòng chảy
 and it will manifest as a physical sensation  và nó thể hiện bằng cảm giác trong thân
 If one reacts to the sensation, again one starts making new sankhara , planting new seeds of misery  Nếu ta phản ứng lại cảm giác, ta lại tạo ra sankhara mới, gieo nhân mới của khổ đau
 But if one observes the sensation with equanimity, the sankharaloses its strength and is eradicated  Nhưng nếu ta quan sát cảm giác với sự bình tâm, sankhara mất đi sức mạnh và bị diệt trừ
 Next moment another old sankharamust come up to sustain the mental flow  Giây phút kế tiếp, một sankhara cũ phải nổi lên để duy trì giòng tâm thức
 Again one does not react, and again it is eradicated  Một lần nữa ta không phản ứng, và nó lại bị diệt trừ
 So long as one remains aware and equanimous, layer after layer of old  will come to the surface and be eradicated  Khi nào ta còn duy trì được sự nhận thức và sự bình tâm, hết lớp sankhara này đến lớp sankhara khác sẽ nổi lên trên bề mặt của tâm và bị diệt trừ
 this is the law of nature  đây là luật tự nhiên
 One has to experience the process oneself, by practising the  technique  Chính ta phải chứng nghiệm được tiến trình này bằng sự thực tập
 When one sees that one’s old habit patterns, old sufferings have been eliminated, then one knows that the process of eradication works  Khi ta nhận ra rằng khuôn mẫu thói quen cố hữu của mình, nỗi khổ cố hữu, đã bị diệt trừ, khi đó ta biết rằng tiến trình diệt trừ đã có hiệu quả
 An analogous technique exists in modem metallurgy  Trong cách luyện kim đương thời có một phương pháp tương tự
 To super-refine certain metals, to make them ultra-pure, it is necessary to remove even one foreign molecule in a billion  Để thanh lọc một kim loại nào đó, để cho nó được tinh ròng, cần phải loại trừ ngay cả khi chỉ có một phân tử ngoại lai trong hàng tỷ phân tử
 This is done by casting the metal in the shape of a rod, and then making a ring of the same metal that has already been refined to the required purity  Việc này được thực hiện bằng cách đúc kim loại này thành một thanh dài và làm một vòng tròn bằng kim loại hoàn toàn tinh ròng này
 The ring is passed over the rod, and generates a magnetism that automatically drives out any impurities to the extremities of the rod  Vòng tròn này được luồn qua thanh kim loại dài và tạo ra một từ trường tự động đẩy những tạp chất ra hai đầu
 At the same time, all the molecules in the rod of metal become aligned  Cùng lúc đó, tất cả những phân tử trong thanh kim loại được sắp xếp lại
 it becomes flexible, malleable, capable of being worked  nó trở thành dẻo dai, dễ uốn nắn hơn
 In the same way, the technique of Vipassana can be regarded as the passing of a ring of pure awareness over the physical structure, driving out any impurities, with similar benefits  Bằng cách tương tự, phương pháp Vipassana có thể coi như luồn một vòng tròn bằng sự nhận thức tinh khiết qua cơ thể, đẩy ra mọi bất tịnh, đem lại những lợi ích tương tự
 Awareness and equanimity will lead to purification of mind  Sự nhận thức và sự bình tâm sẽ đưa đến sự thanh lọc tâm
 Whatever one experiences on the way, whether pleasant or unpleasant, is unimportant  Những gì ta cảm nghiệm trên con đường luyện tập, dù là dễ chịu hay khó chịu, đều không quan trọng
 The important point is not to react with craving or aversion, since both will create nothing but misery  Điểm quan trọng là không phản ứng lại bằng sự thèm muốn hay chán ghét, bởi vì cả hai không đem lại gì ngoài khổ đau
 The only yardstick to measure one’s progress on the path is the equanimity that one has developed  Thước đo duy nhất để đo sự tiến bộ của ta trên con đường luyện tập là sự bình tâm mà ta đạt được
 And the equanimity must be at  the level of bodily sensations if one is to go to the depths of the mind and to eradicate the impurities  Và sự bình tâm phải ở tại lãnh vực cảm giác trên thân nếu ta muốn đi sâu vào nội tâm để diệt trừ hết mọi bất tịnh
 If one learns to be aware of sensations and to remain equanimous towards them, it becomes easy to keep one’s balance in external situations as well  Nếu ta biết cách ý thức được cảm giác và giữ được bình tâm đối với cảm giác, ta dễ dàng giữ được bình tâm đối với những tình huống bên ngoài
 The Buddha was once asked what real welfare is  Có lần Đức Phật được hỏi hạnh phúc thực sự là gì
 He replied that the highest welfare is the ability to keep the balance of one’s mind in spite of all the vicissitudes, the ups and downs, of life  Ngài trả lời rằng hạnh phúc tốt đẹp nhất là giữ được tâm bình thản khi gặp những khó khăn, thăng trầm của cuộc đời
 One may face pleasant or painful situations, victory or defeat, profit or loss, good name or bad name  Ta có thể gặp những hoàn cảnh dễ chịu hay đau đớn, thành công hay thất bại, được hay thua, tiếng tốt hay tiếng xấu
 everyone is bound to encounter all these  ai cũng sẽ gặp những hoàn cảnh này
 But can one smile in every situation, a real smile from the heart? If one has this equanimity at the deepest level within, one has true happiness  Nhưng liệu ta có thể mỉm cười trong mọi hoàn cảnh, một nụ cười thực sự phát xuất từ con tim? Nếu ta có sự bình tâm từ tận đáy lòng, ta sẽ có được hạnh phúc thật sự
 If equanimity is only superficial it will not help in daily life, It is as if each person carries a tank of petrol, of gasoline, within  Nếu sự bình tâm chỉ ở bề ngoài, nó sẽ không giúp được gì trong cuộc sống hằng ngày,  Có thể ví như trong mỗi người đều mang một thùng dầu lửa hoặc xăng
 If one spark comes, one fruit of a past reaction, immediately a great explosion results, producing millions more sparks, more I  which will bring more fire, more suffering in future  Nếu có một tia lửa, một hậu quả do phản ứng trong quá khứ, lập tức đưa tới một sự bùng nổ, tạo thêm hằng triệu tia lửa mới, những sankhara mới mà sẽ tạo thêm những ngọn lửa mới, tạo thêm đau khổ trong tương lai
 By the practice of Vipassana, one gradually empties the tank  Bằng cách tập Vipassana, ta từ từ làm cạn hết thùng dầu
 Sparks will still come because of one’s past sankharabut when they come, they will bum only the fuel that they bring with them  Những tia lửa sẽ vẫn tiếp tục xảy ra do sankhara cũ của mình, nhưng khi chúng đến, chúng chỉ tiêu thụ những nhiên liệu chúng mang theo
 no new fuel is given  không có nhiên liệu mới được thêm vào
 They burn briefly until they consume the fuel they contain, and then they are extinguished  Chúng cháy rất nhanh cho tới khi đã tiêu thụ hết nhiên liệu chúng có, rồi chúng sẽ tàn rụi
 Later, as one develops further on the path, one naturally starts generating the cool w ater of love and compassion, and the tank becomes filled with this water  Sau này, khi ta tiến xa hơn trên con đường luyện tập, ta tự nhiên tạo ra nước mát của tình thương và lòng từ bi, và thùng chứa sẽ chứa đầy loại nước này
 Now, as soon as a spark comes, it is extinguished  Bây giờ, ngay khi một tia lửa tới, nó liền bị dập tắt
 It cannot bum even the small amount of fuel it contains  Nó không thể đốt cháy ngay cả một ít nhiên liệu nó mang theo
 One may understand this at the intellectual level, and know that one should have a water pump ready in case a fire starts  Ta có thể hiểu điều này ở mức độ lý trí, và biết rằng ta phải có một bơm nước sẵn sàng để dùng khi có lửa tới
 But when fire actually comes, one turns on the petrol pump and starts a conflagration  Nhưng khi lửa thực sự tới, ta lại mở bơm xăng làm cho lửa cháy to thêm
 Afterwards one realizes the mistake, but still repeats it next time when fire comes, because one’s wisdom is only superficial  Sau đó, ta nhận ra lỗi lầm, nhưng lần tới vẫn vấp phải lỗi lầm khi có lửa tới, bởi vì sự hiểu biết của ta rất nông cạn
 if someone has real wisdom in the depths of the mind, when faced with fire such a person will not throw petrol on it, understanding that this would only cause harm  Nếu ta có trí tuệ thực sự trong nội tâm, khi gặp phải lửa, một người như thế sẽ không đổ dầu vào lửa, hiểu rằng làm như vậy chỉ thêm tai hại
 Instead one throws the cool water of love and compassion, helping others and oneself  Trái lại, ta đổ nước mát của tình thương và lòng từ bi, giúp người và giúp mình
 The wisdom must be at the level of sensations  Trí tuệ phải ở mức độ cảm giác
 If you train yourself to be aware of sensations in any situation and to remain equanimous towards them, nothing can overpower you  Nếu ta tập cho mình có nhận thức được những cảm giác trong mọi hoàn cảnh và giữ được bình tâm đối với chúng, không gì có thể chế ngự được ta
 Perhaps for just a few moments you observe without reacting  Quý vị có thể quan sát mà không phản ứng trong chốc lát
 Then, with this balanced mind, you decide what action to take  Sau đó, với tâm quân bình này, quý vị quyết định cách hành động
 It is bound to be,  right action, positive, helpful to others, because it is performed with a balanced mind  Chắc chắn đây là hành động chín chắn, tích cực, giúp ích cho người bởi vì nó được thực hiện với một tâm quân bình
 Sometimes in life it is necessary to take strong action  Nhiều khi trong đời cần phải có hành động mạnh
 One has tried to explain to someone politely, gently, with a smile, but the person can understand only hard words, hard actions  Ta cố cắt nghĩa cho một người nào một cách lịch sự, từ tốn, với nụ cười, nhưng người đó chỉ hiểu được lời nói nặng, hành động mạnh
 Therefore one takes hard vocal or physical action  Do đó, ta phải có lời nói và hành động mạnh
 But before doing so, one must examine oneself to see whether the mind is balanced, and whether one has only love and compassion for the person  Nhưng trước khi làm như thế, ta phải xét xem tâm ta có được bình tĩnh hay không, và ta có tình thương và lòng từ bi cho người đó hay không
 If so, the action will be helpful  Nếu được như vậy, hành động sẽ rất hữu ích
 if not, it will not help anyone  nếu không, nó sẽ chẳng giúp được ai cả
 One takes strong action to help the erring person  Ta có hành động mạnh để giúp đỡ người đang sai quấy
 With this base of love and compassion one cannot go wrong  Với căn bản của tình thương và lòng từ bi này ta không thể nào đi sai đường
 In a case of aggression, a Vipassana meditator will work to separate the aggressor and the victim, having compassion not only for the victim but also for the aggressor  Trong trường hợp một cuộc gây gổ, một thiền giả Vipssana sẽ tìm cách tách rời người gây hấn và nạn nhân, có từ tâm không những cho nạn nhân mà cho cả người gây hấn
 One realizes that the aggressor does not knowhowhe is harming himself  Ta nhận ra rằng người gây hấn không biết rằng họ đang tự hại mình
 Understanding this, one tries to help the person by preventing him from performing deeds that will cause him misery in the future  Hiểu được điều này, ta cố giúp bằng cách không cho người đó có những hành động gây ra khổ đau cho họ trong tương lai
 However, you must be careful not to justify your actions only after the event  Tuy nhiên, ta phải cẩn thận không bào chữa cho hành động của mình chỉ sau khi sự việc đã xảy ra
 You must examine the mind before acting  Ta phải kiểm điểm tâm mình trước khi hành động
 If the mind is full of defilements, one cannot help anyone  Nếu tâm chứa đầy phiền não, ta không thể giúp được ai
 First one must rectify the faults in oneself before one can rectify the faults in others  Trước tiên, ta phải sửa lỗi của mình trước khi sửa lỗi cho người khác
 First you must purify your own mind by observing yourself Then you will he able to help many  Trước tiên, quý vị phải thanh lọc tâm bằng cách quan sát chính mình.  Sau đó quý vị mới có thể giúp được nhiều người
 The Buddha said that there are four types of people in the world: those who are running from darkness towards darkness, those who are running from brightness towards darkness, those who are running from darkness towards brightness, and those who are running from brightness towards brightness  Đức Phật nói trên thế gian này có bốn hạng người: hạng người đi từ chỗ tối đến chỗ tối, hạng người đi từ chỗ sáng đến chỗ tối, hạng người đi từ chỗ tối đến chỗ sáng, và hạng người đi từ chỗ sáng đến chỗ sáng
 For a person in the first group, all around there is unhappiness, darkness, but his greatest misfortune is that he also has no wisdom  Một người trong nhóm thứ nhất, tất cả xung quanh đều là bất hạnh, đen tối, nhưng điều bất hạnh lớn nhất là người đó cũng không có trí tuệ
 Every time he encounters any misery he develops more anger, more hatred, more aversion, and blames others for his suffering  Mỗi lần bị khổ, người đó trở nên tức giận hơn, thù hận hơn, chán ghét hơn, và đổ lỗi cho người khác về nỗi khổ của mình
 All those sankhara of anger and hatred will bring him only more darkness, more suffering in the future  Tất cả những sankhara của giận giữ, oán hận sẽ chỉ mang lại cho người đó thêm đen tối, thêm khổ đau trong tương lai
 A person in the second group has what is called brightness in the world: money, position, power, but he too has no wisdom  Một người trong nhóm thứ hai có mọi thứ trên thế gian gọi là tươi sáng: tiền tài, địa vị, quyền lực, nhưng người đó cũng không có trí tuệ
 Out of ignorance he develops egotism, without understanding that the tensions of egotism will bring him only darkness in future  Vì vô minh, người đó trở nên ngạo mạn, không biết rằng sự kiêu căng sẽ chỉ mang lại đen tối cho mình trong tương lai
 A person in the third group is in the same position as one in the first, surrounded by darkness  Một người trong nhóm thứ ba ở trong hoàn cảnh tương tự như người trong nhóm thứ nhất, bị bóng tối bao phủ
 but he has wisdom, and understands  the situation  nhưng người đó có trí tuệ, và hiểu rõ hoàn cảnh của mình
 Recognizing that he is ultimately responsible for his own suffering, he calmly and peacefully does what he can to change the situation, but without any anger or hatred towards others  Nhận thức được rằng, sau cùng, mình là người có trách nhiệm về nỗi khổ của mình, người đó bình tĩnh, từ tốn làm hết sức để thay đổi tình thế, nhưng không một chút tức giận hoặc oán ghét người khác
 instead he has only love and compassion for those who are harming him  trái lại người đó chỉ có tình thương và lòng từ bi đối với những người làm hại mình
 All he creates for the future is brightness  Người đó tạo ra toàn sự tươi sáng cho mình trong tương lai
 Finally a person in the fourth group, just as one in the second, enjoys money, position, and power, but unlike one in the second group, he is also full of wisdom  Cuối cùng, người trong nhóm thứ tư, cũng giống như người trong nhóm thứ hai, hưởng được tiền của, địa vị và quyền lực, nhưng không như người trong nhóm thứ hai, người đó có trí tuệ
 He makes use of what he has in order to maintain himself and those dependent on him, but whatever remains he uses for the good of others, with love and compassion  Người đó tận dụng những gì mình có để mình và người thân sinh sống, nhưng những gì còn lại người đó dùng vào việc làm lợi ích cho người khác, với tình thương và lòng từ bi
 Brightness now and for the future too  Sự tươi sáng ở ngay trong hiện tại và cả trong tương lai
 One cannot choose whether one faces darkness now or brightness  Trong hiện tại ta không thể chọn lựa hoàn cảnh đen tối hay tươi sáng
 that is determined by one’s past sankham   điều này do sankhara trong quá khứ của mình quyết định
 The past cannot be changed, but one can take control of the present by becoming master of oneself  Quá khứ không thể thay đổi, nhưng ta có thể làm chủ được hiện tại bằng cách làm chủ lấy mình
 The future is merely the past plus what is added in the present  Tương lai chỉ là quá khứ cộng thêm những gì trong hiện tại
 Vipassana teaches howto become master of oneself by developing awareness and equanim ity towards sensations  Vipassana dạy ta cách làm chủ bản thân bằng cách phát triển được ý thức và sự bình tâm đối với các cảm giác
 If one develops this mastery in the present moment, the future will automatically be bright  Nếu ta phát triển được việc làm chủ này trong hiện tại thì tương lai đương nhiên sẽ tươi sáng
 Make use of the remaining two days to learn how to become master of the present moment,   Hãy tận dụng hai ngày còn lại để học cách làm chủ được giây phút hiện tại, làm chủ lấy chính mình
master of yourself Keep growing in Dhamma, to come out of all misery, and to enjoy real happiness here and now  Hãy tiếp tục lớn mạnh trong Dhamma, thoát khỏi mọi khổ đau, và hưởng được hạnh phúc thực sự ngay tại đây và ngay bây giờ
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY NINE DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ CHÍN
 Applicalion Of the technique in daily life –   the ten parcunt  Áp dụng kỹ thuật này vào cuộc sống hằng ngày – mười parami (thập thiện)
 Nine days are over  Chín ngày đã qua
 Now is the time to discuss how to make use of this technique in daily life  Bây giờ là lúc để thảo luận cách áp dụng phương pháp vào cuộc sống hằng ngày
 This is of the utmost importance  Đây là điều tối quan trọng
 Dhamma is an art of living  Dhamma là một nghệ thuật sống
 If you cannot use it in daily life, then com ing to a course is no better than perform ing a ritual or  ceremony  Nếu quý vị không thể áp dụng Dhamma trong cuộc sống hằng ngày, thì tham dự khóa thiền cũng không tốt gì hơn việc cử hành một nghi lễ hoặc một nghi thức nào đó
 Everyone faces unwanted situations in life  Mọi người trong đời đều có lúc gặp những điều trái ý
 Whenever something unwanted happens, one loses the balance of ones mind, and starts generating negativity  Khi có điều không như ý xảy ra, ta mất sự bình tâm và bắt đầu tạo ra những bất tịnh trong tâm
 And whenever a negativity arises in the mind , one becomes miserable  Và khi bất tịnh nảy sinh trong tâm, ta trở nên khổ sở
 How is one not to generate negativity, not to create tension? How is one to remain peaceful and harmonious?  Làm thế nào để ta không phát sinh ra bất tịnh và tạo ra căng thẳng? Làm thế nào để ta có thể duy trì được sự an lạc và hài hòa?
 Sages who started exploring the reality of mind and matter within found a solution to the problem: whenever a negativity arises in the mind for whatever reason, one should divert one’s attention elsewhere  Những bậc hiền triết, nghiên cứu thực tế về tâm và thân trong bản thân, đã tìm ra giải pháp cho vấn đề này: bất cứ khi nào tiêu cực nảy sinh trong tâm vì bất cứ lý do gì, ta nên chuyển sự chú tâm đi chỗ khác
 For example, one might get up, drink some water, start counting, or start reciting the name of a deity or saintly person towards whom one has devotion  Ví dụ: ta có thể đứng dậy, uống nước, đếm số, hoặc niệm danh hiệu hay tên của vị thần hoặc thánh mà ta tôn sùng
 By diverting the attention one will emerge from the negativity  Bằng cách chuyển hướng sự chú tâm như thế ta sẽ thoát khỏi tiêu cực
 A workable solution  Đó là một giải pháp có hiệu quả
 But other explorers of inner truth went to the deepest level of reality, to ultimate truth  Nhưng những nhà nghiên cứu khác về sự thật nội tâm đã đi vào tầng lớp sâu nhất của sự thật, chân lý tối hậu
 These enlightened persons realized that by diverting the attention one creates a layer of peace and harmony at the conscious level, but one has not eliminated the negativity that has arisen  Những bậc giác ngộ này nhận thấy rằng, khi chuyển sự chú tâm ta đạt được một lớp an lạc và hài hòa trên tầng ý thức, nhưng ta vẫn chưa diệt hết những tiêu cực đã và đang nảy sinh
 One has merely suppressed it  Ta chỉ dồn nén chúng
 At the unconscious level, it continues to multiply and gather strength  Ở tầng vô thức, chúng vẫn tiếp tục gia tăng gấp bội và tích luỹ thêm sức mạnh
 Sooner or later, this sleeping volcano of negativity will erupt and overpower the mind  Không sớm thì muộn, núi lửa tiêu cực đang ngủ yên này sẽ bùng nổ và chế ngự được tâm
 So long as negativities remain, even at the unconscious level, the solution is only partial, temporary  Khi nào tiêu cực còn tồn tại dù chỉ ở mức độ vô thức, giải pháp này chỉ là nửa vời, tạm bợ
 A fully enlightened person finds a real solution: don’t run away from the problem  face it  Một bậc hoàn toàn giác ngộ tìm ra giải pháp thực sự: đó là đừng trốn tránh vấn đề mà nên đối diện với chúng
 Observe whatever impurity arises in the mind  Hãy quan sát bất cứ bất tịnh nào nảy sinh trong tâm
 By observing one does not suppress it, nor does one give it a free licence to express itself in harmful vocal or physical action  Bằng  cách quan sát ta không dồn nén chúng, ta cũng không để chúng tự do hoành hành bằng lời nói hoặc việc làm
 Between these two extremes lies the middle path: mere observation  Ở giữa hai thái cực này là trung đạo: chỉ quan sát
 When one starts to observe it, the negativity loses its strength and passes away without overpowering the mind  Khi ta bắt đầu quan sát nó, tiêu cực mất đi sức mạnh và biến mất mà không chế ngự được tâm
 Not only that, but some of the old stock of that type of im purity will also be eradicated  Không những chỉ có vậy mà một số những bất tịnh cùng loại đã tích trữ lâu ngày cũng sẽ bị diệt trừ
 Whenever a defilement starts at the conscious level, one’s old stock of that type of defilem ent arises from the unconscious, becomes connected with the present defilement, and starts multiplying  Khi nào có bất tịnh sinh ra ở tầng ý thức, những bất tịnh cũ cùng loại, từ trong tầng vô thức, sẽ trồi lên hòa nhập với bất tịnh hiện tại và bắt đầu sinh sôi nảy nở
 If one just observes, not only the present impurity but also some portion of the old stock will be eradicated  Nếu ta chỉ quan sát, không những chỉ những bất tịnh hiện tại mà cả một phần những bất tịnh cũ cũng sẽ bị diệt trừ
 In this way, gradually all the defilements are eradicated, and one becomes free from misery  Bằng cách này, dần dần mọi bất tịnh đều bị diệt trừ, và ta hết khổ
 But for an average person, it is not easy to observe a mental defilement  Nhưng đối với một người bình thường, quan sát một phiền não trong tâm không phải dễ dàng
 One does not know when it has started and how it has overpowered the mind  Ta không biết khi nào nó khởi sự và nó chế ngự tâm như thế nào
 By the time it reaches the conscious level, it is far too strong to observe without reacting  Tới lúc nó đã lên đến tầng ý thức, nó đã trở nên quá mạnh để ta có thể quan sát nó mà không phản ứng
 Even if one tries to do so, it is very difficult to observe an abstract defilement of the mind – abstract anger, fear, or passion, Instead, one’s attention is drawn to the external stimulus of the defilement, which will only cause it to multiply  Ngay cả khi ta cố quan sát, rất khó quan sát một phiền não trừu tượng trong tâm – sự giận giữ, sợ hãi, đam mê.  Thay vào đó, sự chú ý của ta bị lôi cuốn vào chính đối tượng bên ngoài làm bất tịnh này, khiến nó càng gia tăng gấp bội
 However, enlightened persons discovered that whenever a defilement arises in the mind, simultaneously two things start happening at the physical level: respiration will become abnormal, and a biochemical reaction will start within the body, a sensation Tuy nhiên, những bậc giác ngộ khám phá ra rằng, khi nào phiền não nảy sinh trong tâm, trong cơ thể có hai việc bắt đầu xảy ra cùng một lúc: sự hô hấp mất bình thường, và một phản ứng sinh hóa bắt đầu trong người, một cảm giác
 A practical solution was found  Một giải pháp thực tiễn đã được tìm thấy
 It is very difficult to observe abstract defilements in the mind, but with training one can soon learn to observe respiration and sensation, both of which are physical manifestations of the defilements  Thật ra rất khó quan sát một phiền não trừu tượng trong tâm, nhưng với sự luyện tập, ta có thể biết cách quan sát hơi thở và cảm giác, cả hai đều là biểu hiện cụ thể của những phiền não
 By observing a defilement in its physical aspect, one allows it to arise and pass away without causing any harm  Bằng cách quan sát bất tịnh trong lĩnh vực vật lý, cụ thể, ta để chúng nảy sinh và diệt mất mà không gây ra một thiệt hại nào
 One becomes free from the defilement  Ta loại trừ được sự bất tịnh
 It takes time to master this technique, but as one practises, gradually one will find that in more and more external situations in which previously one would have reacted with negativity, now one can remain balanced  Cần thời gian để nắm được kỹ thuật này, nhưng khi tu tập, dần dần ta nhận thấy, những hoàn cảnh bên ngoài mà trước đây ta phản ứng bằng sự tiêu cực thì nay ta càng ngày càng giữ được sự bình tâm
 Even if one does react, the reaction will not be so intense or prolonged as it would have been in the past  Hoặc nếu ta phản ứng, thì phản ứng cũng không dữ dội và kéo dài như trước đây
 A time will come when in the most provoking situation , one will be able to heed the warning given by respiration and sensation, and will start observing them, even for a few moments  Cũng tới lúc, dù bị chọc tức đến đâu đi nữa, ta có thể nhận biết sự cảnh báo của hơi thở và cảm giác và bắt đầu quan sát chúng dù chỉ trong chốc lát
 These few moments of self-observation will act as a shock absorber between the external stimulus and one’s response  Vài giây phút tự quan sát này là khoảng đệm giảm sốc giữa tác nhân bên ngoài và phản ứng của ta
 Instead of reacting blindly, the mind  remains balanced, and one is capable of taking positive action that is helpful to oneself and others  Thay vì phản ứng mù quáng, tâm vẫn giữ được sự quân bình và ta có khả năng hành động tích cực có lợi cho mình và cho người khác
 You have taken a first step towards eradicating your defilements and changing the habit pattern of the mind, by observing sensations  within yourself  Quý vị đã bước một bước đầu tiên trong việc diệt trừ những bất tịnh của mình và thay đổi khuôn mẫu thói quen của tâm bằng cách quan sát cảm giác trong người
 From the time of birth, one is trained always to look outside  Từ lúc chào đời, ta được tập luôn luôn nhìn ra bên ngoài
 One never observes oneself, and therefore one is incapable of going to the depths of one’s problems  Ta không bao giờ quan sát chính mình, và do đó ta không có khả năng đi tới cội nguồn của các khó khăn, trở ngại của ta
 Instead one looks for the cause of one’s misery outside, always blaming others for one’s unhappiness  Trái lại, ta tìm kiếm nguyên nhân nỗi khổ của mình ở bên ngoài, luôn luôn đổ lỗi cho người khác về những bất hạnh của mình
 One sees things from only one angle, a partial view, which is bound to be distorted  Ta chỉ nhìn sự việc từ một khía cạnh, chỉ thấy một phần, chắc chắn là méo mó
 and yet one accepts this view as the full truth  tuy nhiên ta chấp nhận quan điểm đó là sự thật trọn vẹn
 Any decision made with this incomplete information will only be harmful to oneself and others  Bất cứ quyết định nào phát xuất từ dữ kiện thiếu sót này sẽ chỉ có hại cho mình và cho người
 In order to see the totality of the truth, one must view it from more than one angle  Để nhìn thấy được toàn thể sự thật, ta phải nhìn từ nhiều góc độ
 This is what the learns to do by the practice of Vipassana: to see reality not only outside but inside as well  Ta học được điều này bằng cách tập Vipassana: nhìn sự thật không những ở ngoài ta mà còn ở trong ta nữa
 Seeing from only one angle, one imagines that ones suffering is caused by other people, by an external situation  Chỉ nhìn từ một góc độ, ta tưởng rằng nỗi khổ của mình do người khác hoặc hoàn cảnh bên ngoài gây ra
 Therefore one devotes all one’s energy to changing others, to changing the external situation  Do đó ta dành hết sức mình để thay đổi người khác, thay đổi hoàn cảnh bên ngoài
 In fact, this is a wasted effort  Trên thực tế, đây là nỗ lực không có hiệu quả bị 
 One who has learned to observe reality Within soon realizes that he is com pletely responsible for his misery or happiness  Người nào biết cách quan sát sự thật trong người sẽ sớm nhận ra rằng, mình hoàn toàn chịu trách nhiệm về nỗi khổ và hạnh phúc của mình
 For example, someone is abused by another person, and becomes unhappy  Ví dụ, một người bị người khác sỉ nhục và trở nên đau khổ
 He blames the person who abused him for making him unhappy  Người đó đổ lỗi cho kẻ sỉ nhục làm mình đau khổ
 Actually the abuser created misery for himself, by defiling his own mind  Thực ra, người sỉ nhục tự làm khổ họ bằng cách tạo bất tịnh trong tâm họ
 The person who was abused created his own misery when he reacted to the abuse, when he started defiling his mind  Người bị sỉ nhục đã tạo ra sự khốn khổ cho mình khi phản ứng lại sự sỉ nhục  khi tự làm ô nhiễm tâm mình
 Everyone is responsible for his or her own suffering, no-one else  Mọi người đều chịu trách nhiệm về nỗi khổ của mình chứ không phải ai khác
 When one experiences this truth, the madness of finding fault with others goes away  Khi ta đã trải nghiệm qua sự thực này, mọi điên rồ trong việc đổ lỗi cho người khác biến mất
 What does one react to? An image created by oneself, not the external reality  Ta phản ứng lại điều gì? Phản ứng với một hình ảnh do ta tạo nên chứ không phải với thực thể bên ngoài
 When one sees someone, one’s image of that person is coloured by one’s past conditionings  Khi ta thấy người nào, hình ảnh ta có về người đó được tô vẽ theo nhận định cũ của ta
 The old sankham influence one’s perception of any new situation  Sankhara (nghiệp) cũ ảnh hưởng đến sự nhận định (Tưởng) trong hoàn cảnh mới
 In turn, because of this conditioned perception, bodily sensation becomes pleasant or unpleasant  Rồi tùy thuộc vào nhận định này, cảm giác trong người trở nên dễ chịu hoặc khó chịu
 And according to the type of sensation, one generates a new reaction  Và tùy theo loại cảm giác, ta tạo ra phản ứng (nghiệp) mới
 Each of these processes is conditioned by/he old sankhara  Mỗi tiến trình này đều bị ảnh hưởng bởi sankhara cũ
 But if one remains aware and equanimous towards sensations, the habit of blind reaction becomes weaker, and one learns to see reality as it is  Nhưng nếu ta duy trì được sự nhận thức (Niệm) và sự bình tâm đối với cảm giác, thói quen phản ứng mù quáng trở nên suy yếu, và ta biết cách thấy thực tại đúng như thật
 When one develops the ability to see things from different angles, then whenever another abuses or otherwise misbehaves, the understanding arises that this person is misbehaving because he is suffering  Khi ta phát triển được khả năng nhìn sự việc từ nhiều góc độ khác nhau, thì bất cứ khi nào có người sỉ nhục hoặc đối xử không đúng với ta, ta hiểu rằng người đó làm như vậy vì họ đang đau khổ
 With this understanding, one cannot react with negativity, but will feel only love and compassion for the suffering person, as a mother would feel for a sick child  Với sự hiểu biết này, ta không thể phản ứng bằng thái độ tiêu cực mà sẽ chỉ cảm thấy tình thương và lòng từ bi cho người đang bị khổ, như một người mẹ thương xót cho đứa con đang bị ốm đau
 The volition arises to help the person come out of his misery  Ta sẽ nảy sinh ý muốn giúp người đó thoát khổ
 Thus one remains peaceful and happy, and helps others also to become peaceful and happy  Nhờ đó ta duy trì được sự an vui và hạnh phúc cho mình và đồng thời cũng giúp người khác được an vui và hạnh phúc
 This is the purpose of Dhamma: to practise the art of living, that is, to eradicate mental impurities and to develop good qualities, for one’s own good and for the good of others  Đây là mục đích của Dhamma: thực  tập nghệ thuật sống, nghĩa là, diệt trừ những bất tịnh trong tâm và phát huy những phẩm chất tốt đẹp, có lợi cho mình và cho người
 There are ten good mental qualities parami  –  that one must perfect to reach the final goal  Có mười phẩm hạnh – parami – mà ta phải trau dồi hoàn hảo để đạt được mục đích cuối cùng
 The goal is the stage of total egolessness  Mục tiêu là trạng thái hoàn toàn vô ngã
 These ten pardmi are qualities that gradually dissolve the ego, thereby bringing one closer to liberation  Mười parami (phước báu) này là những phẩm chất để phá bỏ dần dần ngã mạn, nhờ đó đưa ta tới gần sự giải thoát hơn
 One has the opportunity to develop all ten of these qualities in a Vipassana course  Ta có cơ hội phát triển cả mười phẩm chất này trong một khóa thiền Vipassana
 The first parami is nekkhamma  –  renunciation   Parami thứ nhất là nekkhamma – từ bỏ
 One who becomes a monk or a nun renounces the householder’s life and lives without personal possessions, even having to beg for his or her daily food  Ai đã trở thành tăng hay ni đều từ bỏ cuộc sống gia đình và sống không có tài sản riêng, thậm chí phải đi xin ăn (khất thực) hằng ngày
 All this is done for the purpose of dissolving the ego  Làm như vậy với mục đích để diệt trừ bản ngã
 How can a lay person develop this quality? In a course like this, one has the opportunity to do so, since here one lives on the charity of others  Làm thế nào một cư sĩ có thể phát huy được phẩm chất này? Trong một khóa thiền như thế này, ta có cơ hội để thực hiện điều này, bởi vì ở đây ta sống nhờ vào lòng từ thiện của người khác
 Accepting whatever is offered as food, accommodation, or other facilities, one gradually develops the quality of renunciation  Nhờ chấp nhận những gì được ban cho như đồ ăn, chỗ ở, hoặc những nhu cầu khác, ta dần dần phát triển được hạnh từ bỏ
 Whatever one receives here, one makes best use of it, working hard to purify the mind not only for one’s own good, but also for the good of the unknown person who donated on one’s behalf  Bất cứ những gì ta nhận được nơi đây, ta tận dụng chúng, gắng sức luyện tập để thanh lọc tâm, chẳng những có lợi cho riêng mình mà còn có lợi cho những người ẩn danh đã cống hiến cho mình
 The next parami is sila  –  morality  Parami kế tiếp là sila – giữ giới hay giữ gìn đạo đức
 One tries to develop this p a ram i by following the five precepts at all times, both during a course and in daily life  Ta cố phát triển parami này bằng cách luôn luôn giữ năm giới, cả trong khóa thiền lẫn ngoài đời
 There are many obstacles which make it difficult to practice sila in w orldly life  Có rất nhiều trở ngại gây khó khăn cho việc áp dụng sila trong cuộc sống trần tục
 However, here in a meditation course, there is no opportunity to break the precepts, because of the heavy programme and discipline  Tuy nhiên, ở đây, trong một khóa thiền, không có cơ hội để phạm giới vì chương trình và kỷ luật nghiêm ngặt
 Only in speaking is there any likelihood of one’s deviating from strict observance of morality, for this reason one takes a vow of silence for the first nine days of the course  Chỉ việc nói chuyện thôi cũng dể làm một người đi lệch khỏi giới hạnh nghiêm túc.  Vì lý do này, ta quyết giữ im lặng trong chín ngày đầu của khóa thiền
 In this way, at least within the period of the course, one keeps Sila perfectly  Bằng cách này, tối thiểu trong khóa thiền ta cũng giữ sila được hoàn hảo
 Another parami is viriya  –  effort  Một parami khác là viriya – nỗ lực
 In daily life one makes efforts, for example to earn one’s livelihood  Trong đời sống hàng ngày ta luôn có những nỗ lực, thí dụ như là nỗ lực để kiếm sống
 Here, however, the  effort is to purify the mind by remaining aware and equanimous  Tuy nhiên, ở đây nỗ lực là để thanh lọc tâm bằng cách giữ được ý thức và sự bình tâm
 This is right effort, which leads to liberation  Đây là nỗ lực chân chính đưa tới sự giải thoát
 Another parami is panna  –  wisdom  Một parami khác là panna – trí tuệ
 In the outside world, one may have wisdom, but it is the wisdom one gains from reading books or listening to others, or merely intellectual understanding  Ngoài đời ta có thể có trí tuệ, nhưng đó là trí tuệ ta có được nhờ đọc sách hoặc nghe từ người khác, hoặc chỉ là sự hiểu biết trí thức
 The real parami of wisdom is the understanding that develops within oneself, by one’s own experience in meditation  Parami thật sự về trí tuệ là sự hiểu biết phát triển trong chính mình, bằng kinh nghiệm của mình trong lúc hành thiền
 One realizes directly by self-observation the facts of impermanence, suffering, and egolessness  Bằng cách tự quan sát ta trực tiếp nhận ra những sự thật về sự vô thường, đau khổ, và vô ngã
 By this direct experience of reality one comes out of suffering  Nhờ trải nghiệm trực tiếp thực tại này ta thoát khỏi khổ đau
 Another parami is khanti –  tolerance  Một parami khác là khanti – lòng khoan dung, độ lượng
 At course like this, working and living together in a group, one may find oneself becoming disturbed and irritated by the actions of another person  Trong khóa thiền như thế này, luyện tập và sống chung trong một nhóm, ta có thể thấy mình bị quấy rầy và khó  chịu vì hành động của người khác
 But soon one realizes that the person causing a disturbance is ignorant of what he is doing, or a sick person  Nhưng chẳng bao lâu ta nhận ra rằng người gây rối không biết họ đã làm vậy, hoặc là họ bị ốm đau
 The irritation goes away, and one feels only love and compassion for that person  Sự khó chịu mất đi, và ta chỉ cảm thấy tình thương yêu và lòng từ bi đối với người đó
 One has started developing the quality of tolerance  Ta bắt đầu phát triển được phẩm chất khoan dung
 Another parami is sacca –  truth  Một parami khác là sacca – lòng chân thật
 By practising sila one undertakes to maintain truthfulness at the vocal level  Bằng cách tu tập sila, ta tập duy trì sự chân thật trong lời nói
 However, sacca must also be practised in a deeper sense  Tuy nhiên, sacca phải được luyện tập ở mức độ sâu hơn
 Every step on the path must be a step with truth, from gross, apparent truth, to subtler truths, to ultimate truth  Mỗi bước trên con đường thực tập phải đúng với sự thật, từ thô thiển, dễ nhận biết, tới sự thật tinh tế hơn, tới sự thật tối hậu
 There is no room for imagination  Không có chỗ cho sự tưởng tượng
 One must always remain with the reality that one actually experiences at the present moment  Ta phải luôn luôn duy trì sự thật mà ta thực sự trải nghiệm được trong giây phút hiện tại
 Another param i is adhitthana –  strong determination  Một parami khác là adhitthana – sự quyết tâm mạnh mẽ
 When one starts a Vipassana course, one makes a determination to remain for the entire period of the course.  One resolves to follow the precepts, the rule of silence, all the discipline of the course  Khi bắt đầu khóa thiền, ta nhất quyết ở lại trọn khóa.  Ta nguyện giữ giới, giữ im lặng, tuân theo nội quy của khóa thiền
 After the introduction of the technique of Vipassana itself, one makes a strong determination to meditate for the entire hour during each group sitting without opening eyes, hands or legs  Sau khi được truyền dạy phương pháp Vipassana, trong mỗi buổi thiền chung một giờ, ta quyết tâm ngồi yên trọn giờ mà không mở mắt và không duỗi tay, duỗi chân
 At a later stage on the path, this parami will be very important  Trên bước đường luyện tập sau này, parami này rất quan trọng
 when coming close to the final goal, one must be ready to sit without break until reaching liberation  khi gần tới mục đích cuối cùng, ta phải sẵn sàng ngồi liên tục cho tới khi được giác ngộ
 For this purpose it is necessary to develop strong determination  Vì mục đích này phát triển quyết tâm mạnh mẽ là rất cần thiết
 Another parami is metta –  pure, selfless love  Một parami khác là metta – tình thương thuần khiết không vụ lợi (từ tâm)
 In the past one tried to feel love and goodwill for others, but this was only at the conscious level of the mind  Trong quá khứ ta cố gắng có tình thương và thiện chí đối với người khác, nhưng đây chỉ ở tầng ý thức của tâm
 At the unconscious level the old tensions continued  Tại tầng lớp vô thức, những căng thẳng cũ vẫn tiếp tục
 When the entire mind is purified, then from the  depths one can wish for the happiness of others  Khi tâm đã được thanh lọc hoàn toàn, tự thâm tâm ta mong muốn mọi người được hạnh phúc
 This is real love, which helps others and helps oneself as well  Đây là tình thương thật sự, hữu ích cho người và cho mình
 Yet another parami is upekkha – equanimity  Một parami khác là upekkha – sự bình tâm
 One learns to keep the balance of the mind not only when experiencing gross, unpleasant sensations or blind areas in the body, but also in the face of subtle, pleasant, sensations,   Ta biết cách giữ được bình tâm không những khi gặp những cảm giác nặng nề, khó chịu hoặc chỗ không có cảm giác trong người, nhưng cả lúc gặp những cảm giác êm dịu, khoan khoái
in every situation one understands that the experience of that moment is impermanent, bound to pass away  Trong mọi trường hợp, ta hiểu rằng mọi kinh nghiệm trong giây phút đó đều vô thường, chắc chắn sẽ qua đi
 With this understanding one remains detached, equanimous  Với sự hiểu biết này, ta giữ được thái độ không vướng mắc và tâm bình thản
The last parami is dana – charity, donation  Parami cuối cùng là dana – từ thiện, cống hiến
 For a lay person, this is the first essential step of Dhamma  Đối với một cư sĩ, đây là bước đầu thiết yếu của Dhamma
 A lay person has the responsibility of earning money by right livelihood, for the support of oneself and of any dependents  Một cư sĩ có bổn phận kiếm tiền bằng nghề nghiệp chân chính để nuôi mình và những người thân vào mình
 But if one generates attachment to the money that one earns, then one develops ego  Nhưng nếu ta bị ràng buộc vào của cải ta kiếm được thì khi đó ta phát triển tự ngã
 For this reason, a portion of what one earns must be given for the good of others  Vì lý do này, một phần những gì ta kiếm được phải được cống hiến vì lợi ích của người khác
 If one does this, ego will not develop, since one understands that one earns for one’s own benefit and also for the benefit of others  Nếu làm như thế, bản ngã sẽ không phát triển vì ta hiểu rằng ta kiếm tiền không những cho ta mà còn cho cả người khác
 The volition arises to help others in whatever way one can  Ta tự nguyện giúp đỡ người khác bằng mọi cách
 And one realizes that there can be no greater help to others than to help them learn the way out of suffering  Và ta nhận ra rằng, không một sự giúp đỡ nào tốt hơn là giúp cho họ học được cách thoát khổ
 In a course like this, one has a wonderful opportunity to develop this parami  Trong một khoá thiền như thế này, ta có một cơ hội quý báu để phát huy parami (phước báu) này
 Whatever one receives here is donated by another person  Những gì ta nhận được nơi đây đều do sự cống hiến của người khác
 there are no charges for room and board, and certainly none for the teaching  không tính tiền ăn, tiền ở, và chắc chắn không tính tiền giảng dạy
 In turn, one is able to give a donation for the benefit of someone else  Để đáp lại, ta có thể đóng góp cho lợi ích của người khác
 The amount one gives will vary according to ones means  Số lượng ta đóng góp tùy theo khả năng của mình
 Naturally a wealthy person will wish to give more, but even the smallest donation, given with proper volition, is very valuable in developing this parami  Đương nhiên một người giàu có sẽ muốn đóng góp nhiều hơn, nhưng ngay cả sự đóng góp ít nhất, nhưng đóng góp với cả tấm lòng, cũng rất có giá trị trong việc phát huy parami này
 Without expecting anything in return, one gives so that others may experience the benefits of Dhamma and may come out of their suffering  Không trông mong được đền đáp, ta đóng góp để người khác có cơ hội được hưởng những lợi lạc từ Dhamma và có thể thoát khỏi khổ đau
 Here you have the opportunity to develop all ten of the parami  Nơi đây quý vị có cơ hội để phát huy cả mười parami (thập thiện)
 When all these good qualities are perfected you will reach the final goal  Khi cả mười phẩm chất này được hoàn hảo quý vị sẽ đạt được mục tiêu tối hậu
 Keep practising to develop them little by little  Hãy tiếp tục luyện tập để phát huy mười phước báu này từng chút một
 Keep progressing on the path of Dhamma, not only for your own benefit and liberation, but also for the benefit and liberation of many  Hãy tiến triển trên con đường Dhamma, không chỉ vì lợi ích và sự giải thoát cho riêng mình, nhưng cũng vì lợi ích và sự giải thoát cho nhiều người
 May all suffering beings find pure Dhamma, and be liberated  Nguyện cho tất cả những chúng sinh đang đau khổ tìm thấy được Dhamma thuần khiết và được giải thoát
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY TEN DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ MƯỜI
 Review o fthe technique  Ôn lại phương pháp thực tập
 Ten days are over  Mười ngày đã trôi qua
 Let us review what you have done during these ten days  Giờ chúng ta hãy kiểm lại những gì quý vị đã luyện tập trong mười ngày này
 You started your work by taking refuge in the Triple Gem, that is, in Buddha, in Dhamma  in Sangha  Quý vị bắt đầu tu tập bằng cách nương tựa Tam Bảo, nghĩa là, nương tựa vào Buddha, nương tựa vào Dhamma (Pháp), và nương tựa vào Sangha (Tăng)
 By doing so you were not being convened from one organized religion to another  Bằng cách nương tựa như thế quý vị đã không phải cải đạo từ một tổ chức tôn giáo này sang một tổ chức tôn giáo khác
 In Vipassana the conversion is only from misery to happiness, from ignorance to wisdom, from bondage to liberation  Trong Vipassana, chỉ có sự chuyển hóa từ đau khổ sang hạnh phúc, từ vô minh sang trí tuệ, từ ràng buộc sang giải thoát
 The entire teaching is universal  Toàn bộ lời dạy của Đức Phật đều mang tính phổ quát
 You took refuge not in a personality, dogma, or sect, hut in the quality of enlightenment  Quý vị không nương tựa vào một người nào, tín điều nào, tông phái nào, mà nương tựa vào phẩm chất của sự giác ngộ
 Someone who discovers the way to enlightenment is a Buddha  Ai khám phá ra con đường dẫn đến sự giác ngộ thì người đó là Buddha (Phật)
 The way that he- finds is called the Dhamma  Con đường Ngài tìm ra là Dhamma
 All who practise this way and reach the stage of saintliness are called Sangha  Tất cả những ai luyện tập theo con đường này và đạt tới trình độ thánh thiện được gọi là Sangha
 Inspired by such persons, one takes refuge in Buddha, Dhamma, and Sangha in order to attain the same goal of purity of mind  Được khích lệ bởi những vị này, ta nương tựa vào Buddha, Dhamma và Sangha để cũng đạt được mục đích là thanh lọc tâm
 The refuge is actually in the universal quality of enlightenment which one seeks to develop in oneself  Sự nương tựa thật sự vào phẩm chất phổ quát của sự giác ngộ mà ta cố gắng phát triển cho chính mình
 At the same time, in any person who progresses on the path there will arise a feeling of gratitude and also a volition to serve others without expecting anything in return  Đồng thời, bất cứ người nào có tiến bộ trên con đường luyện tập đều có lòng biết ơn và ý muốn phục vụ người khác mà không đòi hỏi được đền đáp điều gì
 These two qualities were notable in Siddhattha Gotama, the historical Buddha  Hai phẩm chất này nổi bật nơi Ngài Siddhattha Gotama, một vị Phật lịch sử
 He had achieved enlightenment entirely by his own efforts  Ngài đã hoàn toàn giác ngộ do nỗ lực của chính Ngài
 Nevertheless, out of compassion for all beings, he sought to teach the technique he  had found to others  Tuy vậy, vì lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh, Ngài tìm cách truyền dạy phương pháp Ngài đã tìm được cho mọi người
 The same qualities will appear in all who practise the technique and who eradicate, to some extent, the old habit of egotism  Những phẩm chất tương tự sẽ xuất hiện trong tất cả những ai thực hành phương pháp thiền này và những ai đã diệt trừ được phần nào thói quen cố hữu của tính vị kỷ
 The real refuge, the real protection, is the Dhamma that you develop in yourself   Sự nương tựa thực thụ, sự bảo vệ thực thụ, là Dhamma mà quý vị luyện tập được cho mình
However, along with the experience of Dhamma there is bound to grow a feeling of gratitude to Gotama the Buddha for finding and teaching this technique,   Tuy nhiên, song song với kinh nghiệm về Dhamma, chúng ta hẳn sẽ nhớ ơn Đức Phật Gotama vì Ngài đã tìm ra và giảng dạy phương pháp này
and gratitude as well to those who selflessly strove to maintain the teaching in its original purity through twenty-five centuries to the present day  Đồng thời ta cũng  nhớ ơn những người với lòng vị tha đã phấn đấu để duy trì phương pháp thiền được tinh khiết như thuở ban sơ trong suốt hai mươi lăm thế kỷ qua
 With this understanding you took refuge in the Triple Gem  Với sự hiểu biết này, quý vị quay về nương tựa Tam Bảo
 Next you took five precepts  Kế tiếp quý vị tiếp nhận năm giới
 This was not a rite or ritual  Đây không phải là nghi thức hay nghi lễ
 By taking these precepts and following them you practised sj|a morality, which is the foundation of the technique  Bằng cách tiếp nhận và gìn giữ những giới này quý vị luyện tập sila, đạo đức, đó là nền tảng của phương pháp thiền này
 Without a strong foundation the entire structure of meditation would be weak  Không có nền móng vững chắc toàn thể cơ cấu của sự hành thiền sẽ suy yếu
 Sila is also universal and nonsectarian  Sila cũng mang tính phổ quát và không có tính chất tông phái
 You undertook to abstain from all actions, physical or vocal, that would disturb the peace and harmony of others  Quý vị nguyện tránh mọi việc làm hay lời nói quấy rối sự an lạc và hài hòa của người khác
 One who breaks these precepts must first develop great i mpurity in the mind, destroying his own peace and harmony  Ai phạm những giới này chắc phải tạo ra đầy bất tịnh trong tâm, phá hủy sự an lạc và hài hòa của chính mình
 From the mental level the impurity develops and expresses itself vocally or physically  Từ trong tâm, bất tịnh phát triển và thể hiện ra bằng lời nói hay việc làm
 In Vipassana you are trying to purify the mind so that it becomes really calm and peaceful  Trong Vipassana, quý vị cố gắng thanh lọc tâm để cho tâm được thực sự yên tĩnh và an lạc
 You cannot work to purify the mind while you still continue to perform actions that agitate and defile it  Quý vị không thể luyện tập để thanh lọc tâm trong khi vẫn tiếp tục tạo ra những hành động làm cho tâm vọng động và bất tịnh
 But how are you to break out of the vicious cycle in which the agitated mind performs unwholesome actions that agitate it still further? A Vipassana course gives you the opportunity  Nhưng làm cách nào để quý vị có thể phá vỡ được cái vòng lẩn quẩn trong đó cái tâm vọng động thực hiện những hành động bất thiện để rồi những hành động bất thiện ấy lại làm cho tâm vọng động thêm nữa? Một khóa thiền Vipassana cho quý vị cơ hội này
 Because of the heavy programme, the strict discipline, the vow of silence, and the strongly supportive atmosphere, there is hardly any likelihood of your breaking the five precepts  Bởi vì chương trình gắt gao, kỷ luật nghiêm ngặt, sự giữ im lặng và môi trường hỗ trợ mạnh khiến quí vị khó mà phạm năm giới
 Thus during the ten days you are able to practise sila, and with this base you can develop samadhi  Do đó trong suốt mười ngày quý vị có thể giữ sila, và với nền tảng này quý vị có thể phát triển samadhi (định)
 and this in turn becomes the base for insight, with which you can penetrate to the depths of the mind and purify it  rồi định trở thành nền tảng của tuệ,  Với tuệ giác, quý vị có thể thâm nhập các tầng sâu thẳm của tâm và thanh lọc được tâm
 During the course you undertook to observe the five precepts in order to be able to learn this technique  Trong khóa thiền, quí vị nguyện giữ năm giới để có thể học được phương pháp này
 Having learned it, one who then decides to accepts and practise Dhamma must observe the precepts throughout life  Sau khi đã học được phương pháp, ai đã quyết định chấp nhận và luyện tập Dhamma cần phải giữ giới trọn đời
 Next you surrendered to the Buddha and your present teacher for the ten days of the course  Kế đến quý vị tuân thủ lời dạy của Đức Phật và vị thiền sư hiện diện trong suốt mười ngày của khóa thiền
 This surrender was for the purpose of giving a fair trial to the technique  Sự tuân thủ chỉ với mục đích để thử nghiệm phương pháp thiền này một cách công bằng
 Only som eone who has surrendered in this way can work putting forth full efforts  Chỉ những ai đã tuân thủ như thế mới có thể dồn hết nỗ lực trong sự luyện tập
 One who is full of doubts and scepticism cannot work properly  Ai còn hoài nghi, ngờ vực thì không thể luyện tập một cách đúng đắn được
 However, surrendering does not mean developing blind faith  Tuy nhiên, tuân thủ không có nghĩa là trở thành tin tưởng mù quáng
 that has nothing to do with Dhamma  điều này không liên quan gì đến Dhamma
 If any doubt arose in the mind, you were encouraged to come to the teacher as often as necessary for clarification  Nếu có gì nghi ngờ, quý vị được khuyến khích thường xuyên đến gặp thiền sư khi cần, để được làm sáng tỏ
 The surrender was also to the discipline and timetable of the course  Quý vị cũng phải tuân thủ cả nội quy và thời khóa biểu của khóa thiền
 These were designed, based on the experience of thousands of previous students, to enable you to work continuously so as to derive the greatest possible advantage from these ten days  Những điều này được đặt ra, dựa trên kinh nghiệm của hàng ngàn thiền sinh trong quá khứ, để quý vị tu tập một cách liên tục và gặt hái được lợi lạc tối đa trong mười ngày này
 By surrendering you undertook to work exactly as you were asked  Nhờ tuân thủ, quý vị nguyện tập đúng theo lời hướng dẫn
 Whatever techniques you might have been practising  previously you were asked to lay aside for the period of the course  Trong thời gian của khóa thiền, quý vị được yêu cầu bỏ sang một bên những phương pháp đã tập trong quá khứ
 You could obtain the benefit and judge the value of the technique only by practising it exclusively, in the proper way  Quý vị chỉ có thể đạt được lợi ích và phán xét giá trị của phương pháp bằng cách luyện tập chỉ một phương pháp này và tập đúng cách
 Mixing techniques, on the other hand, could have led you into serious difficulties  Mặt khác, pha trộn nhiều phương pháp có thể mang lại những khó khăn nghiêm trọng cho mình
 Then you started your work by practising Anapana meditation in order to develop mastery of the mind, concentration –  samadhi   Rồi quý vị bắt đầu tập thiền Anapana để phát triển việc làm chủ được tâm, định – samadhi
You were told to observe mere, natural breath without adding any word, shape, or form  Quý vị được yêu cầu chỉ quan sát hơi thở tự nhiên mà không thêm vào một lời, một hình ảnh, hay một đối tượng nào
 One reason for this restriction was to preserve the universality of the technique: breath is common and acceptable to everyone, but a word or form may be acceptable to some and not to others  Một lý do của sự hạn chế này là để duy trì tính chất phổ quát của phương pháp: hơi thở quen thuộc và được mọi người chấp nhận, nhưng một lời nói hoặc một hình ảnh có thể được người này chấp nhận mà người khác lại có thể không chấp nhận
 But there is a more important reason for observing mere respiration  Nhưng có một lý do quan trọng hơn để chỉ quan sát hơi thở
 The whole process is an exploration of the truth about oneself, about the mental-physical structure as it is, not as you would like it to be  Toàn bộ tiến trình luyện tập là một cuộc khám phá sự thật về chính mình, về cấu trúc tâm lý-vật lý đúng như thật chứ không phải như ý quý vị muốn
 It is an investigation of reality  Đó là sự quan sát thực tại
 You sit down and close your eyes  Quý vị ngồi xuống và nhắm mắt
 There is no sound, no outside disturbance, no movement of the body  Không có tiếng động, không có sự quấy nhiễu từ bên ngoài, không có sự cử động của thân thể
 At that moment the most prominent activity within yourself is respiration  Vào lúc đó hoạt động rõ ràng nhất trong người là hơi thở
 You begin by observing this reality: natural breath, as it enters and leaves the nostrils  Quý vị bắt đầu bằng cách quan sát thực thể này: hơi thở tự nhiên, khi chúng đi vào, đi ra khỏi lỗ mũi
 When you could not feel the breath, you were permitted to breathe slightly hard, just to fix your attention in the area of the nostrils, and then once again you came back to natural, normal, soft breathing  Khi không cảm thấy hơi thở, quý vị được phép thở hơi mạnh, đủ để dồn sự chú tâm vào khu vực lỗ mũi, và rồi lại trở về hơi thở tự nhiên, bình thường, nhẹ nhàng
 You started with this gross, apparent truth, and from it you moved further, deeper, in the direction of subtler truths, of ultimate truth  Quý vị bắt đầu với sự thực thô thiển, rõ rệt này, và từ đó đi xa hơn, sâu hơn, theo hướng của sự thực tinh tế hơn, của sự thực tối hậu
 On the entire path, at every step you remain with the truth that you actually experience, from the grossest to the subtlest  Trên suốt con đường tu tập, tại mỗi bước quý vị sống với sự thật, quý vị thực sự chứng nghiệm được nó từ thô thiển nhất đến vi tế nhất
 You cannot reach ultimate truth by starting with an imagination  Quý vị không thể đạt được sự thật tối hậu khi bắt đầu bằng một sự tưởng tượng
 You will only become entangled in greater imaginations, self-deceptions  Làm như vậy quý vị sẽ chỉ vướng mắc vào những tưởng tượng to lớn hơn và chỉ tự lừa dối mình
 If you had added a word to the object of respiration, you might have concentrated the mind more quickly, but there would have been a danger in doing so  Nếu thêm một lời nói vào hơi thở, quý vị có thể sẽ định tâm được nhanh hơn, nhưng làm như vậy sẽ gây ra nguy hiểm
 Every word has a particular vibration  Mỗi lời nói đều có một rung động đặc biệt
 By repeating a word or phrase, one creates an artificial vibration in which one becomes engulfed  Bằng cách lặp đi lặp lại một lời hoặc một câu, ta tạo ra một rung động nhân tạo và ta bị chìm sâu vào đó
 At the surface level of the mind a layer of peace and harmony is created, but in the depths impurities remain  Trên bề mặt của tâm một lớp an lạc và hài hòa được hình thành, nhưng dưới đáy sâu, bất tịnh vẫn tồn tại
 The only way to get rid of these deep-lying impurities is to learn how to observe them, how to bring them to the surface so that they may pass away  Cách duy nhất để gạt bỏ những bất tịnh tiềm ẩn này là biết cách quan sát chúng, biết cách đưa chúng lên bề mặt của tâm để chúng có thể mất đi
 If one observes only a particular artificial vibration, one will not be able to observe the various natural vibrations related to one’s impurities, that is, to observe the  sensations arising naturally within the body  Nếu chỉ quan sát một rung động nhân tạo đặc biệt nào đó, ta sẽ không thể quan sát những rung động tự nhiên khác nhau liên quan tới những bất tịnh của mình, nghĩa là, quan sát những cảm giác nảy sinh một cách tự nhiên trong người
 Therefore, if one’s purpose is to explore the reality of oneself and to purify the mind, to use an imaginary word can create obstacles  Do  đó, nếu mục tiêu của ta là khám phá ra thực tại của chính mình và để thanh lọc tâm, thì việc dùng một lời nói tưởng tượng có thể gây ra trở ngại
 Similarly visualization –  mentally picturing a shape or form –  can become a barrier to progress  Sự hình dung cũng tương tự như vậy – tưởng tượng một hình dáng hay hình thể trong tâm – có thể ngăn cản sự tiến bộ
 The technique leads to the dissolving of apparent truth in order to reach ultimate truth  Phương pháp thiền này nhắm đến sự xóa tan sự thật hiển nhiên để tiến tới sự thật tối hậu
 Apparent, integrated truth is always full of illusions, because at this level sanna operates, perception, which is distorted by past reactions  Sự thật bề ngoài, hình thành do sự tập hợp nhiều nhân duyên, luôn luôn chứa đầy những ảo tưởng, bởi vì sanna (nhận định) hoạt động ở tầng lớp này, mà sự nhận định thường bị lệch lạc vì nghiệp cũ
 This  conditio nedperception differentiates and discriminates, giving rise to preferences and prejudices, to fresh reactions  Sự nhận định bị nghiệp này ảnh hưởng, phân biệt, thiên vị, đưa đến sự ưa thích và thiên kiến, đưa tới những phản ứng mới
 But by disintegrating apparent reality, one gradually comes to experience the ultimate reality of the mental-physical-structure: nothing but vibrations arising and passing away every  moment  Nhưng bằng cách xóa tan sự thật hiển nhiên, ta dần dần cảm nghiệm được sự thật tối hậu của cơ cấu tinh thần-vật chất: không có gì ngoài sự rung động sinh diệt từng giây từng phút
 At this stage no differentiation is possible, and therefore no preferences or prejudices can arise, no reactions  Tại giai đoạn này không thể còn sự phân biệt, và do đó không có những ưa thích và thiên kiến nảy sinh, không còn phản ứng tạo nghiệp
 The technique gradually weakens the conditioned sanna and hence weakens reactions, leading to the stage in which perception and sensation cease, that is, the experience of nibbana  Phương pháp này làm suy yếu dần dần ảnh hưởng của sanna và nhờ đó làm suy yếu các phản ứng, đưa tới giai đoạn sự nhận định và cảm giác ngừng hoạt động, đó là sự chứng nghiệm được nibbana
 But by deliberately giving attention to a shape, form, or vision, one remains at the level of apparent, composed reality and cannot advance beyond it  Nhưng nếu cố tình chú ý đến hình dáng, đối tượng, hoặc hình ảnh, ta vẫn còn ở trong sự thật hiển nhiên, không thực và không thể vượt qua chúng được
 For this reason, there should be neither visualization nor verbalization  Vì lý do này, hành giả không nên tưởng tượng hình tượng hoặc tụng niệm
 Having concentrated the mind by observing natural breath, you started to practise Vipassana meditation in order to develop panna – wisdom, insight into your own nature, which purifies the mind  Sau khi đã định tâm bằng cách quan sát hơi thở tự nhiên, quý vị bắt đầu tập Vipassana để có thể phát triển panna – trí tuệ, tuệ giác thấy rõ tự tánh và thanh lọc được tâm
 From head to feet, you began observing natural sensations within the body, starting on the surface and then going deeper, learning to feel sensations outside, inside, in every part of the body  Quý vị bắt đầu tập quan sát những cảm giác tự nhiên trên thân thể từ đầu xuống chân, từ bề mặt rồi đi vào sâu hơn, học cách cảm nhận được cảm giác ở bên ngoài, ở bên trong, ở mọi phần của thân thể
 Observing reality as it is, without any preconceptions, in order to disintegrate apparent truth and to reach ultimate truth –  this is Vipassana  Quan sát sự thật đúng như thật, không có định kiến nào, để phá tan sự thật hiển nhiên và đạt đến sự thật tối hậu – đây là Vipassana
 The purpose of disintegrating apparent reality is to enable the meditator to emerge from the illusion of T  Mục đích việc làm tan rã sự thật hiển nhiên là để cho thiền giả thoát khỏi ảo tưởng về “cái Ta”
 This illusion is at the root of all our craving and aversion, and leads to great suffering  Ảo tưởng này là cội nguồn của mọi thèm muốn, chán ghét và đưa tới nhiều khổ đau
 One may accept intellectually that it is an illusion, but this acceptance is not enough to end suffering  Ta có thể chấp nhận về mặt trí thức rằng đây là một ảo tưởng, nhưng sự chấp nhận này không đủ để ta chấm dứt đau khổ
 Regardless of religious or philosophical beliefs, one remains miserable so long as the habit of egotism persists  Dù tin vào tôn giáo hoặc triết lý nào đi nữa, ta vẫn còn khổ khi nào thói quen vị kỷ còn tồn tại
 In order to break this habit one must experience directly the insubstantial nature of the mental-physical phenomenon, changing constantly beyond one’s control  Để dứt bỏ thói quen này, ta phải thể nghiệm được bản tánh phù du của hiện tượng tinh thần-thể xác, nó đổi thay không ngừng ngoài tầm kiểm soát của ta
 This experience alone can dissolve egotism, leading to the way out of craving and aversion, out of suffering  Chỉ với kinh nghiệm này cũng đủ dứt bỏ bản ngã, đưa đến sự chấm dứt thèm muốn, chán ghét và sẽ hết khổ
 The technique therefore is the exploration, by direct experience, of the real nature of the phenomenon that one calls mine ‘  Do đó phương pháp thiền này là sự khám phá bằng trực nghiệm bản tánh đích thực của hiện tượng được gọi là “Ta, Của Ta”
 There are two aspects of this phenomenon: physical and mental, body and mind  Có hai phương diện của hiện tượng này: vật chất và tinh thần, thân và tâm
 The meditator begins by observing the reality of the body  Thiền giả bắt đầu bằng cách quan sát thực tại của thân
 To experience this reality directly, one must feel the body, that is  must be aware of sensations throughout the body  Để trải nghiệm được thực tại này, ta phải cảm nghiệm được thân, nghĩa là, phải ý thức được cảm giác khắp cơ thể
 Thus observation of body  –  kayanupassana  –  necessarily in vo lves o b se rva tio n of sensations – vedananupassana   Như vậy, việc quan sát thân – kayanupassana – nhất thiết có liên quan đến quan sát các cảm giác – vedananupassana
 Similarly one cannot experience the reality of the mind apart from what arises in the mind  Tương tự, ta không thể cảm nghiệm được thực tại của tâm tách rời những gì nảy sinh trong tâm
 Thus, observation of mind  –  cittanupassana  –  necessarily involves observation of the mental contents – dhammanupassana  Như vậy, quan sát tâm – cittanupassana – nhất thiết có liên quan đến quan sát nội dung của tâm –  – dhammanupassana
 This does not mean that one should observe individual thoughts  Điều này không có nghĩa là ta phải quan sát từng ý nghĩ một
 If you try to do that, you will start rolling in the thoughts  Nếu cố làm như thế, quý vị sẽ bắt đầu chìm đắm trong những ý nghĩ
 You should simply remain aware of the nature of the mind at this moment  whether craving, aversion, ignorance, and agitation are present or not  Ta chỉ nên có ý thức về bản tánh của tâm trong lúc này, dù sự thèm muốn, chán ghét, giao động có hiện diện hay không
 And whatever arises in the mind  The Buddha discovered, will be accompanied by a physical sensation  Đức Phật khám phá ra rằng, bất cứ cái gì nảy sinh trong tâm sẽ có kèm theo một cảm giác
 Hence whether the meditator is exploring the mental or the physical aspect  of the phenomenon of awareness of sensation is essential  Từ đó, ý thức về cảm giác là cần thiết cho dù thiền giả khảo sát về mặt tinh thần hay vật chất của hiện tượng về ‘Ta’
 This discovery is the unique contribution of the Buddha, of central importance in his teaching  Sự khám phá này là đóng góp độc đáo của Đức Phật, là điểm cốt lõi trong sự giảng dạy của Ngài
 Before him in India and among his contemporaries, there were many who taught and practised sila and samadhi Panna also existed, at least devotional or intellectual wisdom: it was commonly accepted that mental defilements are the source of suffering, that craving and aversion must be eliminated in order to purify the mind and to attain liberation  Tại Ấn Độ, trước và cùng thời với Đức Phật, cũng đã có nhiều người giảng dạy và tập sila và samadhi,  Panna cũng đã có, ít ra là về phương diện thành tín hoặc trí thức: những phiền não trong tâm thường được chấp nhận là nguồn gốc của khổ đau, sự thèm muốn và chán ghét phải được diệt trừ để thanh lọc tâm và đạt được giải thoát
 The Buddha simply found the way to do it  Đức Phật chỉ khám phá ra con đường để thực hiện điều này
 What had been lacking was an understanding of the importance of sensation  Điều thiếu sót vào thời trước đó là sự hiểu biết về tầm quan trọng của cảm giác
 Then as now, it was generally thought that our reactions are to the external objects of sense – vision, sound, odour, taste, touch, thoughts  Xưa nay, ta thường nghĩ ta phản ứng với đối tượng bên ngoài của giác quan – hình thể, âm thanh, mùi, vị, vật xúc chạm, ý nghĩ
 However, observation of the truth within reveals that between the object and the reaction is a missing link: sensation  Tuy nhiên, quan sát sự thực trong ta cho thấy giữa đối tượng và phản ứng có một mắt xích không được chú ý, đó là cảm giác
 The contact of an object with the corresponding sense door gives rise to sensation  Sự tiếp xúc giữa đối tượng và giác quan tương ứng làm cảm giác nảy sinh
 the sanna assigns a positive or negative valuation, in accordance with which the sensation becomes pleasant or unpleasant, and one reacts with craving or aversion  sanna (nhận định) đưa ra một sự đánh giá tốt hay xấu, theo đó cảm giác trở nên dễ chịu hoặc khó chịu, và ta phản ứng bằng sự thèm muốn hay chán ghét
 The process occurs so rapidly that conscious awareness of it develops only after a reaction has been repeated many times and has gathered dangerous strength sufficient to overpower the mind  Tiến trình xảy ra nhanh đến nỗi tâm ý thức chỉ nhận biết được sau khi phản ứng đã được lặp lại nhiều lần và đã gom được sức mạnh đủ để chế ngự được tâm
 To deal with the reactions, one must become aware of them at the point where  they start  Để đối phó với những phản ứng này, ta phải ý thức được chúng ở ngay nơi chúng khởi sự
 they start with sensation, and so one must be aware of sensations  chúng phát sinh cùng với cảm giác, do đó ta phải ý thức về những cảm giác
 The discovery of this fact, unknown before him, enabled Siddhartha Gotama to attain enlightenment, and this is why he always stressed the importance of sensation  Việc khám phá ra sự kiện này, trước đây chưa ai biết đến, giúp Thái Tử Siddhattha Gotama đạt được sự giác ngộ, và do vậy Ngài luôn luôn nhấn mạnh sự quan trọng của cảm giác
 Sensation can lead to reactions of craving and aversion and hence to suffering, but sensation can also lead to wisdom with which one ceases reacting and starts to emerge from suffering  Cảm giác đưa tới phản ứng bằng thèm muốn  hay chán ghét, rồi đưa tới khổ,  Nhưng cảm giác cũng đưa tới trí tuệ làm ta ngừng phản ứng và bắt đầu thoát khỏi khổ
 In Vipassana, any practice that interferes with the awareness of sensation is harmful, whether it is concentrating on a word or form, or giving attention merely to physical movements of the body or to thoughts arising in the mind  Trong Vipassana, bất cứ cách tập nào cản trở sự ý thức về cảm giác đều có hại, cho dù đó là sự chú tâm vào lời nói hoặc hình ảnh hoặc chỉ chú tâm vào cử động của cơ thể hoặc những ý nghĩ nảy sinh trong tâm
 You cannot eradicate suffering unless you go to its source, sensation  Quý vị không thể diệt trừ được khổ nếu như không đi đến nơi nó phát xuất, đó là cảm giác
 The technique of Vipassana was explained by the Buddha in the Satipaohana S u tta , the “D iscourse on the Establishing of Awareness  Phương pháp Vipassana được Đức Phật giảng giải trong Satipatthana Sutta, “Bài giảng về Sự Tạo Lập Ý Thức”
 This discourse is divided into sections examining the various aspects of the technique; observation of body, of sensations, of mind, and of the mental contents  Bài giảng này được chia làm nhiều phần nghiên cứu về những lĩnh vực khác nhau của phương pháp  quan sát thân, cảm giác, tâm, và nội dung của tâm
 However, each division or subdivision of the discourse concludes with the same words  Tuy nhiên, mỗi đoạn hoặc phân đoạn trong bài giảng đều kết thúc bằng những từ giống nhau
 There may be different points from which to begin the practice, but no matter what the starting point, a meditator must pass through certain stations, certain experiences on the path to the final goal  Có thể có nhiều khởi điểm khác nhau trong việc thực hành, nhưng cho dù khởi sự ở điểm nào đi nữa, thiền giả cũng phải đi qua những chặng đường nhất định, trải qua những kinh nghiệm nhất định trên con đường đi đến đích cuối cùng
 These experiences, essential to the practice of Vipassana, are described in the sentences repeated at the conclusion of each section  Những kinh nghiệm này, cần thiết trong việc luyện tập Vipassana, được mô tả nhiều lần bằng những câu lặp lại ở phần cuối của mỗi đoạn
 The first such station is that in which one experiences arising (samudaya) and passing away (vaya) separately  Tại chặng đầu tiên ta cảm thấy sự nảy sinh (samudaya) và diệt mất (vaya) một cách riêng rẽ
 At this stage the meditator is aware of consolidated, integrated reality in the form of gross sensations within the body  Ở giai đoạn này thiền giả ý thức được thực thể chắc đặc, nặng nề dưới hình thức những cảm giác thô thiển trong thân
 One is aware of a sensation, perhaps a pain, arising  Ta cảm thấy một cảm giác, có thể là đau nhức, nảy sinh
 It seems to stay for some time and ultimately it passes away  Nó dường như tồn ở đó một thời gian và cuối cùng cũng diệt mất
 Going further beyond this station, one penetrates to the stage of samudaya-vaya, in which one experiences arising and passing away simultaneously, without any interval between them  Vượt qua chặng này, ta thâm nhập vào giai đoạn samudaya-vaya, nơi ta cảm thấy sinh và diệt cùng một lúc, không có khoảng cách ở giữa
 The gross, consolidated sensations have dissolved into subtle vibrations, arising and falling with great rapidity, and the solidity of the mental-physical structure disappears  Những cảm giác thô thiển, chắc đặc đã tan rã thành những rung động nhẹ nhàng, sinh diệt cực nhanh, và sự chắc đặc của cấu trúc thân và tâm biến mất
 Solidified, intensified emotion and solidified, intensified sensation both dissolve into nothing but vibration  Những xúc cảm chắc đặc, mạnh mẽ và cảm giác chắc đặc, mạnh mẽ đều tan rã thành những rung động
 This is the stage of bhanga  –  dissolution  – in which one experiences the ultimate truth of mind and matter: constantly arising and passing away, without any solidity  Đây là giai đoạn bhanga  – tan rã – trong đó ta chứng nghiệm được sự thực tối hậu của tâm và thân: luôn luôn sinh và diệt, không một chút bền chắc
 This bhanga is a very important station on the path, because only when one experiences the dissolution of the mental-physical structure does attachment to it go away  Bhanga này là một chặng rất quan trọng trên con đường luyện tập, bởi vì chỉ khi nào ta chứng nghiệm được sự tan rã của cấu trúc thân-tâm thì sự ràng buộc mới mất đi
 Then one becomes detached in the face of any situation; that is, one enters the stage of sankhara-upekkha  Từ đó ta cảm thấy không bị ràng buộc khi đối diện với mọi hoàn cảnh,.  nghĩa là, ta tới trình độ sankhara-upekkha (bình tâm và không phản ứng lại các sankhara)
 Very deep lying  impurities  –  sankhara – buriedin the unconscious now start appearing at the surface level of  the mind  Những bất tịnh nằm rất sâu – sankhara – chôn vùi trong vô thức giờ bắt đầu trồi lên bề mặt của tâm
 This is not a regression; it is a progress, for unless they come to the surface, the impurities cannot be eradicated  Đây không phải là một sự thụt kùi mà là một sự tiến bộ, vì bất tịnh không thể bị diệt trừ nếu không nổi lên trên bề mặt
 They arise, one observes equanimously, and they pass away one after another  Chúng nảy sinh, ta bình tâm quan sát, và hết  bất tịnh này đến bất tịnh khác bị diệt đi
 One uses the gross, unpleasant sensations as tools with which to eradicate the old stock of sankhara of aversion; one uses the subtle, pleasant sensations as tools with which to eradicate the old stock of sankhara of craving  Ta dùng cảm giác thô thiển, khó chịu làm phương tiện để diệt trừ sankhara về chán ghét chồng chất lâu ngày  ta dùng cảm giác nhẹ nhàng, khoan khoái làm phương tiện để diệt trừ sankhra về thèm muốn chất chứa lâu ngày
 Thus by maintaining awareness- and equanimity towards every experience, one purifies the mind of all the deep-lying complexes, and approaches closer and closer to the goal of nibbci1a, of liberation  Như vậy, bằng cách duy trì được ý thức và sự bình tâm đối với mọi trải nghiệm, ta thanh lọc tâm hết mọi phức cảm nằm rất sâu, và ngày càng tiến gần đến mục tiêu nibbana, giải thoát
 Whatever the starting point, one must pass through all these stations in order to reach nibbcma  Bất cứ từ khởi điểm nào, ta cũng phải đi qua tất cả những chặng đường này để tới được nibbana
 How soon one may reach the goal depends on how much work one does, and how large an accumulation of past sankhara one has to eradicate  Ta đạt được mục tiêu sớm hay muộn tùy thuộc vào việc ta luyện tập nhiều hay ít, và có bao nhiêu sankhara tích tụ lâu ngày ta cần phải diệt trừ
 In every case, however, in every situation, equanimity is essential, based on an awareness of sensations  Tuy nhiên, trong mọi trường hợp, mọi hoàn cảnh, sự bình tâm là cần thiết, dựa trên ý thức về cảm giác
 Sankhara arise from the point of physical sensation  Sankhara phát sinh từ cảm giác trên thân
 By remaining equanimous towards sensation, you prevent new sankhara from arising, and you also eliminate the old ones  Bằng cách giữ được bình tâm đối với cảm giác, ta ngăn ngừa không cho sankhara (nghiệp) mới nảy sinh và đồng thời ta diệt trừ được sankhara (nghiệp) cũ
 Thus by observing sensations equanimously, you gradually progress towards the final goal of liberation from suffering  Như vậy, bằng cách bình tâm quan sát cảm giác, quý vị dần dần tiến tới mục tiêu cuối cùng, thoát khỏi mọi khổ đau
 Work seriously  Hãy luyện tập nghiêm túc
 Do not make a game of meditation, lightly trying one technique after another without pursuing any  Không nên xem thiền như một trò chơi, thử hết phương pháp này đến phương pháp khác một cách hời hợt mà không chuyên chú vào một phương pháp nào
 If you do so, you will never advance beyond the initial steps of any technique, and therefore you will never reach the goal  Nếu làm như thế, quý vị sẽ không bao giờ vượt qua chặng đầu của bất kỳ phương pháp nào, và do đó không bao giờ đạt tới đích
 Certainly you may make trials of different techniques in order to find one that suits you  Dĩ nhiên quý vị có thể thử qua vài phương pháp để xem phương pháp nào thích hợp với mình
 You may also give two or three trials to this technique, if needed  Quý vị cũng có thể thử phương pháp này đôi ba lần nếu cần
 But do not waste your entire m t merely in giving trials  Nhưng không nên phí cả đời chỉ để thử
 Once you find a technique to be suitable, work at it seriously so that you may progress to the final goal  Một khi đã tìm được phương pháp phù hợp, hãy theo đó mà luyện tập một cách nghiêm túc để đạt được mục tiêu cuối cùng
 May suffering people every where find the way out of their misery  Nguyện cho những người đang đau khổ ở khắp nơi tìm được con đường thoát khổ
 May all beings be happy!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc!
   
 DAY ELEVEN DISCOURSE  BÀI GIẢNG NGÀY THỨ MƯỜI MỘT
 How to continue practising after the  end of the course  Tiếp tục luyện tập như thế nào khi khoá thiền kết thúc
 working one day after the other, we have come to the closing day of this Dhamma seminar  Thực tập hết ngày này sang ngày khác, chúng ta đã tới ngày cuối của khóa thiền
 When you started the work, you were asked to surrender completely to the technique and discipline of the course  Khi bắt đầu luyện tập, quý vị được yêu cầu hoàn toàn tuân thủ phương pháp và nội quy của khóa thiền
 Without this surrender, you could not have given a fair trial to the technique  Nếu không tuân thủ theo như vậy, quý vị không thể thử nghiệm phương pháp này một cách công bằng
 Now ten days are over  Bây giờ mười ngày đã qua
 you are your own master  quý vị là người chủ của chính mình
 When you return to your home, you will review calmly what you have done here  Khi trở về nhà, quý vị hãy bình tĩnh xem xét lại những gì đã tập nơi đây
 If you find that what you have learned here is practical, logical, and beneficial to yourself and to all others, then you should accept it – not because someone has asked you to do so, but with a free will, of your own accord  Nếu thấy rằng, những gì mình đã học được là thực tiễn, hợp lý, và có lợi cho mình và cho tất cả mọi người thì quý vị nên chấp nhận nó – không phải vì ai yêu cầu quý vị làm như vậy, mà vì quý vị tự nguyện, tự đồng ý
 not just for ten days, but for your whole life  không phải chỉ trong mười ngày, mà trong suốt cả đời
 The acceptance must be not merely at the intellectual or emotional level  Sự chấp nhận không nên chỉ ở mức độ lý trí hoặc tình cảm
 One has to accept Dhamma at the actual level by applying it, making it a part of one’s life, because only the actual practice of Dhamma will give tangible benefits in daily life  Ta phải chấp nhận Dhamma ở mức độ thực tế bằng cách áp dụng Dhamma, coi Dhamma là một phần của cuộc đời mình, bởi vì chỉ với sự thực hành Dhamma mới đem lại lợi ích thiết thực trong cuộc sống hằng ngày
 You joined this course to learn how to practise Dhamma –  how to live a life of morality, of mastery over one’s mind, of purity of mind  Quý vị tham dự khóa thiền này để học cách thực hành Dhamma – làm thế nào để sống một cuộc sống đạo đức, để làm chủ được tâm mình, để thanh lọc tâm
 Every evening, Dhamma talks were given merely to clarify the practice  Mỗi tối, quí vị được nghe một bài giảng nhằm làm sáng tỏ cách luyện tập
 It is necessary to understand what one is doing and why, so that one will not become confused or work in a wrong way  Hiểu rõ mình đang làm gì và tại sao là điều cần thiết giúp ta không bị phân vân và tập sai đường lối
 However, in the explanation of the practice, certain aspects of the theory inevitably were mentioned, and since different people from different backgrounds come to a course, it is quite possible that some may have found part of the theory unacceptable  Tuy nhiên, trong khi giảng giải phương pháp này, ta không thể tránh việc phải đề cập tới một vài khía cạnh của lý thuyết.  Và vì có nhiều người thuộc nhiều thành phần khác nhau tham dự khóa thiền, rất có thể có người thấy vài chỗ trong lý thuyết không thể chấp nhận được
 If so, never mind, leave it aside  Nếu đúng như vậy, hãy gác nó qua một bên
 More important is the practice of Dhamma  Thực tập Dhamma quan trọng hơn
 No one can object to living a life that does not harm others, to developing control of one’s mind, to freeing the m ind of defilements and generating love and good will  Không ai phản đối cách sống một cuộc sống không làm hại người khác, phát triển việc làm chủ được tâm mình, giải thoát tâm khỏi những bất tịnh và tạo được tình thương yêu và thiện chí
 The practice is universally acceptable, and this is the most significant aspect of  Dhamma, because whatever benefit one gets will be not from theories but from practice, from applying Dhamma in one’s life  Sự luyện tập này được mọi người chấp nhận, và đây là  một khía cạnh có ý nghĩa nhất của Dhamma, bởi vì bất cứ lợi ích nào ta đạt được sẽ không từ những lý thuyết mà do sự thực hành, do áp dụng Dhamma vào cuộc sống của mình
 In ten days one can get only a rough outline of the technique  Trong mười ngày, ta chỉ học được những điều cơ bản của phương pháp thiền này
 one cannot expect to become perfect in it so quickly  ta không thể trông đợi mình trở nên hoàn hảo về phương pháp một cách mau lẹ đến thế
 But even this brief experience should not be undervalued: you have taken the first step, a very important step, although the journey is long – indeed, it is a lifetime job  Nhưng tuy nhiên kinh nghiệm ngắn ngủi này không phải là không có giá trị: quý vị đã khởi sự đi bước đầu tiên, một bước rất quan trọng, mặc dù hành trình còn dài – đúng thế, đây là công việc của cả một đời người
 A seed of Dhamma has been sown, and has started sprouting into a plant  Một hạt giống Dhamma đã được gieo, và đã bắt đầu nảy mầm thành một cây con
 A good gardener takes special care of a young plant, and because of the service given it  that little plant gradually grows into a huge tree with thick trunk and deep roots  Một người làm vườn giỏi sẽ săn sóc cây con một cách đặc biệt, và nhờ sự săn sóc này, cây con dần dần lớn thành một cây thật lớn với thân to và rễ sâu
 Then, instead of requiring service, it keeps giving, serving, for the rest of its life  Sau đó, thay vì cần được săn sóc, cây này đem lại lợi ích và phục vụ ta trọn đời
 This little plant of Dhamma requires service now  Cây Dhamma con này bây giờ cần được săn sóc
 Protect it from the criticism of others by making a distinction between the theory, to which some might object, and the practice, which is acceptable to all  Hãy bảo vệ nó để nó không bị người khác chỉ trích bằng cách phân biệt giữa lý thuyết mà vài người có thể chống đối, và cách thực hành mà mọi đều người chấp nhận
 Don’t allow such criticism to stop your practice  Đừng để cho những sự chỉ trích đó làm quý vị ngừng luyện tập
 Meditate one hour in the morning and one hour in the evening  Hãy ngồi thiền một giờ vào buổi sáng, và một giờ vào buổi tối
 This regular, daily practice is essential  Sự luyện tập thường xuyên, hằng ngày này rất cần thiết
 At first it may seem a heavy burden to devote I wo hours a day to meditation, but you will soon find that much ti me will be saved that was wasted in the past  Lúc đầu nó có vẻ là một gánh nặng khi mọi người phải dành hai giờ mỗi ngày để thực tập, nhưng quý vị sẽ sớm nhận ra rằng mình tiết kiệm được nhiều thì giờ hơn thay vì phí phạm nó như trong quá khứ
 Firstly, you will need less time for sleep  Trước hết, quý vị cần ít thì giờ hơn để ngủ
 Secondly, you will be able to complete your work more quickly, because your capacity for work will increase  Thứ hai, quý vị có thể hoàn thành công việc nhanh chóng hơn, bởi vì khả năng làm việc gia tăng
 When a problem arises you will remain balanced, and will be able immediately to find the correct solution  Khi gặp phải khó khăn quý vị sẽ giữ được sự bình tâm, và sẽ lập tức tìm ra giải pháp thỏa đáng
 As you become established in the technique, you will find that having meditated in the morning, you are full of energy throughout the day, without any agitation  Tới khi đã thấm nhuần phương pháp, quý vị sẽ nhận ra rằng sau khi đã ngồi thiền một tiếng buổi sáng, quý vị có đầy đủ năng lực làm việc suốt ngày mà không bị giao động
 When you go to bed at night, for five minutes be aware of sensations anywhere in the body before you fall asleep  Ban đêm trước khi ngủ, quý vị nên dành năm phút để ý thức về mọi cảm giác trên khắp cơ thể
 Next morning, as soon as you wake up  again observe sensations within for five minutes  Sáng hôm sau, ngay sau khi thức dậy, lại quan sát cảm giác trong vòng năm phút
 These few minutes of meditation immediately before falling asleep and after waking up will prove very helpful  Vài phút thiền ngay trước khi ngủ và sau khi thức giấc sẽ rất hữu ích
 If you live in an area where there are other Vipassana meditators, once a week meditate together for an hour Nếu quý vị sống ở chỗ có những thiền giả Vipassana khác, nên ngồi thiền chung với nhau một giờ mỗi tuần
 And once a year, a ten-day retreat is a must  Mỗi năm cần phải tham dự ít nhất là một khóa thiền mười ngày
 Daily practice will enable you to maintain what you have achieved here, but a retreat is essential in order to go deeper  Sự luyện tập hằng ngày giúp quý vị duy trì được những gì thu thập được ở đây, nhưng một khóa thiền bồi dưỡng rất cần thiết để quý vị có thể luyện tập sâu hơn
 there is still a long way to go  con đường tu tập vẫn còn dài
 If you can come to an organized course like this, very good  Nếu quý vị có thể tham dự một khóa thiền có tổ chức như thế này là điều rất tốt
 If not, you can still have a retreat by yourself  Nếu không, quý vị vẫn có thể tạo một khoá thiền bồi dưỡng cho  riêng mình
 Do a self-course for ten days, wherever you can be secluded from others, and where someone can prepare your meals for you  Khóa thiền tự tập mười ngày ở chỗ nào riêng biệt, có người nấu ăn cho mình
 You know the technique, the timetable, the  discipline  Quý vị đã biết cách thực hành, thời khoá biểu, kỷ luật
 you have to impose all that on yourself now  quý vị tự tuân theo mhững điều này
 If you wish to inform your teacher in advance that you are starting a self course, I shall remember you and send my metta, vibrations of good will  Nếu quý vị muốn thông báo trước cho Thiền Sư là sẽ bắt đầu khóa tự tu, tôi sẽ nhớ và gởi metta (tâm từ) của tôi, gởi những giao cảm an lành của tôi tới quý vị
 this will help to establish a healthy atmosphere in which you can work better  điều này sẽ tạo ra một môi trường thanh tịnh giúp quý vị luyện tập hiệu quả hơn
 However, if you have not informed your teacher, you should not feel weak  Tuy nhiên, nếu không thể thông báo cho Thiền Sư, quý vị không nên mất tự tin
 Dhamma itself will protect you  Chính Dhamma sẽ bảo vệ quý vị
 Gradually you must reach a stage of self-dependence  Dần dần quý vị phải đạt được trình độ tự lập
 The teacher is only a guide  Vị Thiền Sư chỉ là người hướng dẫn
 you have to be your own master  quý vị phải tự là người chủ của chính mình
 Depending on anyone, all the time, is no liberation  Lúc nào cũng lệ thuộc vào người khác thì không thể giải thoát được
 Daily meditation of two hours and yearly retreats often days are only the minimum necessary to maintain the practice  Thiền hai giờ mỗi ngày và hằng năm một khóa thiền bồi dưỡng mười ngày chỉ là sự cần thiết tối thiểu để duy trì sự tu tập
 If you have more free time, you should use it for meditation  Nếu có thêm thời giờ rảnh, quý vị nên dùng để hành thiền
 You may do short courses of a week, or a few days, even one day  Quý vị có thể tham dự những khóa thiền ngắn một tuần, hoặc vài ngày, ngay cả một ngày
 In such short courses, devote the first one third of your time to the practice of Anapana, and the rest to Vipassana  Trong những khóa thiền ngắn như vậy, hãy dành một phần ba thời gian để tập Anapana, và thời gian còn lại cho Vipassana
 In your daily meditation, use most of the time for the practice of Vipassana  Trong lúc thiền hằng ngày, nên dùng phần lớn thời gian để tu tập Vipassana
 Only if your mind is agitated or dull, if for any reason it is difficult to observe sensations and maintain equanimity, then practise Anapana for as long as necessary  Chỉ khi nào tâm quý vị bị xáo động hoặc trì trệ, hoặc nếu vì bất cứ lý do nào khiến cho quý vị khó quan sát cảm giác và giữ được sự bình tâm, thì quý vị nên tập Anapana cho tới khi còn thấy cần
 When practising Vipassana  be careful not to play the game of sensations, becoming elated with pleasant ones and depressed with unpleasant ones  Khi tập Vipassana, nên cẩn thận không chơi trò chơi cảm giác, trở nên khoan khoái với cảm giác dễ chịu và buồn phiền vì cảm giác khó chịu
 Observe every sensation objectively  Nên quan sát mọi cảm giác một cách khách quan
 Keep moving your attention systematically throughout the body, not allowing it to remain on one part for long periods  Hãy di chuyển sự chú tâm khắp cơ thể một cách có hệ thống, không ngừng quá lâu tại bất cứ chỗ nào
 A maximum of two minutes is enough in any part, or up to five minutes in rare cases, but never more than that  Tối đa hai phút để quan sát bất cứ chỗ nào, và tối đa năm phút cho trường hợp đặc biệt, nhưng đừng bao giờ ngừng lâu hơn
 Keep the attention moving to maintain awareness of sensation in every part of the body  Nên luôn luôn di chuyển sự chú tâm để duy trì được ý thức về cảm giác ở mọi chỗ trong người
 If the practice starts to become mechanical, change the way in which you move your attention  Nếu sự tu tập bắt đầu trở nên máy móc, thì hãy thay đổi cách quý vị di chuyển sự chú tâm
 In every situation remain aware and equanimous, and you will experience the wonderful benefits of Vipassana  Trong mọi trường hợp, phải duy trì được ý thức và sự bình tâm, và quý vị sẽ hưởng được lợi ích tuyệt vời của Vipassana
 In active life as well you must apply the technique, not only when you sit with eyes closed  Quý vị cũng phải áp dụng phương pháp này khi đang sinh hoạt, chứ không phải chỉ khi nào ngồi nhắm mắt
 When you are working, all attention should be on your work  Khi đang làm việc, quý vị phải hoàn toàn chú tâm vào công việc
 consider it as your meditation at this time  coi như mình đang hành thiền vào lúc này
 But if there is spare time, even for five or ten minutes, spend it in awareness of sensations  Nhưng nếu có giờ rảnh, dù chỉ năm hay mười phút, hãy dùng thời gian này để ý thức về những cảm giác
 when you start work again, you will feel refreshed  khi quay lại công việc, quý vị sẽ thấy tươi tỉnh hơn
 Be careful, however, that when you meditate in public, in the presence of non-meditators, you keep your eyes open  Tuy nhiên nên cẩn thận, khi quý vị thiền giữa đám đông, với sự hiện diện của người không hành thiền, quý vị nên mở mắt
 never make a show of the practice of Dhamma  đừng bao giờ phô trương việc luyện tập Dhamma
 If you practise Vipassana properly, a change must come for better in your life  Nếu thực tập Vipassana đúng cách, cuộc sống của quý vị sẽ thay đổi tốt hơn
 You should check your progress on the path by  checking your conduct in daily situations, in your behavior and dealings with other people  Quý vị nên xem xét sự tiến bộ của mình trên con đường tu tập bằng cách xét lại hạnh kiểm của mình trong những tình huống hằng ngày, xét lại thái độ và cách đối xử với người khác
 Instead of harming others, have you started helping them? When unwanted situations occur, do you remain balanced?  Thay vì làm tổn thương những người khác, quý vị đã bắt đầu giúp họ chưa? Khi việc trái ý xảy ra, quý vị có giữ được sự bình tâm không?
 If negativity starts in the mind, how quickly are you aware of it? How quickly are you aware of the sensations that arise along with the negativity?  Nếu bất tịnh nảy sinh trong tâm, quý vị ý thức được chúng nhanh đến mức độ nào? Quý vị ý thức nhanh đến mức độ nào đối với các cảm giác đi cùng với bất tịnh? 
 How quickly do you start observing the sensations? How quickly do you regain a mental balance, and start generating love and compassion?  Quý vị bắt đầu quan sát các cảm giác ấy nhanh đến chừng nào? Quý vị lấy lại bình tâm, và bắt đầu phát sinh tình thương và lòng từ bi nhanh đến mức độ nào? 
In this way examine yourself, and keep progressing on the path Hãy tự xét lại mình như thế, và tiếp tục tiến bộ trên con đường luyện tập
 Whatever you have attained here, not only preserve it, but make it grow  Những gì quý vị đạt được ở đây, không những chỉ giữ gìn chúng, mà hãy làm chúng tăng trưởng
 Keep applying Dhamma in your life  Hãy tiếp tục áp dụng Dhamma vào cuộc sống của quý vị
 Enjoy all the benefits of this technique, and live a happy, peaceful, harmonious life, good for you and for all others  Hãy tận hưởng tất cả những lợi ích của phương pháp này, và sống một cuộc sống hạnh phúc, an lạc, hài hòa, tốt cho mình và cho mọi người
 One word of warning: you are welcome to tell others what you have learned here  Một lời khuyến cáo là quý vị có thể tự do nói cho người khác về những gì đã học nơi đây
 there is never any secrecy in Dhamma  không bao giờ có một bí mật nào trong Dhamma
 But at this stage, do not try to teach the technique  Nhưng ở giai đoạn này, không nên cố chỉ dạy người khác phương pháp này
 Before doing that, one must be ripened in the practice, and must be trained to teach  Trước khi làm như thế, ta phải thuần thục trong sự thực tập, và phải được huấn luyện cách giảng dạy
 Otherwise there is the danger of harming others instead of helping them  Ngược lại sẽ có nguy cơ làm hại người khác thay vì giúp họ
 If someone you have told about Vipassana wishes to practise it, encourage that person to join an organized course like this, led by a proper guide  Nếu người nào nghe quý vị nói và muốn tu tập Vipassana, hãy khuyến khích họ tham dự một khóa thiền được tổ chức như thế này, do một người có khả năng hướng dẫn
 For now, keep working to establish yourself in Dhamma  Còn bây giờ, hãy tiếp tục thực hành để thấm nhuần Dhamma
 Keep growing in Dhamma, and you will find that by the example of your life, you automatically attract others to the path  Hãy tiếp tục trưởng thành trong Dhamma và quý vị sẽ thấy rằng, chỉ bằng cách làm gương trong lối sống của mình, quý vị tự động lôi cuốn được người khác vào con đường luyện tập
 May Dhamma spread around the world, for the good and benefit of many  Nguyện cho Dhamma được lan truyền khắp thế gian, vì sự tốt lành và lợi ích của nhiều người
 May all beings be happy,  be peaceful, be liberated!  Nguyện cho mọi chúng sinh được hạnh phúc, được an lạc, được giải thoát!